Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

TÌNH BẠN KỲ LẠ CỦA HAI BẬC THẦY VĂN CHƯƠNG PHÁP

Tình bạn lạ kỳ của hai bậc thầy văn chương Pháp
----Jean Paul Sartre và Allbert Camus

.


Cặp đôi Allbert Camus và Jean Paul Sartre đã góp phần quan trọng nâng nền văn chương Pháp lên tầm cao mới. Cả hai đã từng có một tình bạn và có những rạn nứt. Nhưng thiếu một trong hai người, sẽ thật khó có một nền văn học Pháp độc đáo như ta biết hiện nay...

Cách đây 100 năm, tại Paris, một trong những người con ưu tú nhất, người từng được mệnh danh là bậc thầy tư tưởng của văn chương Pháp thế kỷ XX, Jean Paul Sartre, ra đời.  Tám năm sau ngày ra đời của Sartre, Camus, “nhà nghệ sĩ trong tư tưởng hiện sinh” do Sartre đề xướng, cũng xuất hiện trên cõi thế.
Tình bạn giữa Camus và Sartre được hình thành từ những ngày cả hai cùng làm việc trong Tòa soạn báo “Tranh đấu”. Dù không cùng trang lứa, nhưng Sartre và Camus có nhiều nét đồng điệu: say mê triết học và văn chương, cả hai cùng từng là đảng viên Đảng Cộng sản, ghét sự dối trá, biết sống và làm việc hết mình. Sartre và Camus đã không ít lần uống rượu vui vẻ và đàm đạo văn chương cùng nhau. Tưởng như họ sẽ không bao giờ tách rời nhau. Vậy mà…
Vâng, chúng ta đừng bao giờ lấy làm ngạc nhiên khi chứng kiến một “cặp đôi” nào đó đồng điệu đến thế vậy mà vẫn đối nghịch (hình như Marx cũng đã từng nói, chính sự mâu thuẫn đối nghịch đã tạo nên tính thống nhất bền vững trong một sự vật, đó là biện chứng). Phảng phất đâu đó trong trước tác của đôi bạn hiện sinh ngay từ những ngày còn gắn bó này, đã ngầm chứa sự rạn nứt.
Trong công trình đồ sộ về Camus được xuất bản gần đây nhất, Olivier Todd, một nhà báo và nhà văn từng nhiều năm theo đuổi đề tài hiện sinh, đã tiết lộ cho chúng ta biết rằng, ngay từ khi đôi bạn hiện sinh này còn thân thiết với nhau, trong ghi chép của mình, Camus đã bộc lộ: “Những cuộc gặp gỡ của chúng tôi có thể thưa thớt nhưng rất nồng nhiệt. Tôi nhận thấy Sartre là một tài năng lớn không thể chối cãi. Nhưng những cuốn sách của ông không bao giờ ảnh hưởng lớn đối với tôi. Điều đó có thể được giải thích thật đơn giản, vì chúng tôi có những điểm rất khác nhau… Về mặt tư tưởng thì Sartre chủ yếu được nuôi dưỡng trên nền triết học Đức mà ông rất kính trọng, trong khi tôi thích Platon (nhà triết học cổ đại Hy Lạp) hơn là Hegel. Người thầy thực sự của tôi là Jean Grennier”.
Những bộc bạch trên đây của Camus rất dễ khiến ai đó dẫn đến suy nghĩ rằng, phải chăng vì thế mà Sartre, vốn là một con người kiêu hãnh, rất am hiểu triết học, luôn tự coi mình là người dẫn dắt thế hệ hiện sinh, cảm thấy khó chịu? Sự uyên bác triết học của Sartre rõ ràng được thể hiện qua khối tác phẩm đồ sộ của ông, không chỉ ở riêng lĩnh vực chuyên môn này mà còn lấn sang cả văn chương. Đọc “Buồn nôn”, tiểu thuyết đầu tiên và nổi tiếng nhất của Sartre, ta không thể không có cảm giác, hình như người đứng đầu trào lưu hiện sinh nước Pháp, chỉ muốn mượn hình thức văn chương để bàn luận triết học.
Chính Camus đã từng đánh giá rất cao tác phẩm này của Sartre, nhưng vẫn luôn bảo lưu ý kiến rằng “Buồn nôn” có nhiều tính triết học hơn là văn chương. Khâm phục Sartre nhưng Camus không hẳn lúc nào cũng đứng cùng chiến tuyến với tác giả “Hữu thể và hư vô”. Có lẽ vì thế chăng mà sau này Camus nhất quyết không chấp nhận mình là nhà văn hiện sinh (dù trên thực tế cả khảo luận triết học và sáng tác văn chương, ông chính là một nhà hiện sinh đích thực).
Về phía mình, Jean Paul Sartre cũng hiểu được tài năng của Camus. Bằng chứng rõ ràng là ngay sau khi “Người xa lạ” của Camus ra đời, Sartre đã lập tức viết bài ca ngợi. Không còn nghi ngờ gì “Cắt nghĩa Người xa lạ” của Sartre là bài viết hay nhất về tác phẩm của Camus. Thế nhưng, rải rác đây đó trong bản ca tụng tác phẩm này, Sartre vẫn không giấu giếm ý nghĩ rằng tính tư tưởng của nó còn quá nhẹ; và rằng “Cuốn tiểu thuyết này có đặc tính khá mập mờ… nó xa lạ như chính cái nhan đề của tác phẩm”… Những tiểu tiết tưởng như rất nhỏ bé này cứ lớn dần và đó là lý do khiến mối quan hệ bạn bè giữa Sartre và Camus cứ rạn nứt dần. Nó chẳng khác nào hành động của một nghệ sĩ xiếc đi trên dây. Càng cố giữ thăng bằng thì bước đi lại càng chao đảo. Chỉ cần một cú hích rất nhỏ, sự thăng bằng sẽ bị phá vỡ.
Quả thật như thế. Tình bạn của họ đã thực sự chấm dứt sau những lời qua tiếng lại khi cuốn “Người nổi loạn” của Camus ra đời (1951). Rất nhiều nhà nghiên cứu giải thích, lý do của sự rạn nứt giữa Sartre và Camus đơn giản chỉ là vì sự bất đồng trong sự lựa chọn thể chế chính trị của hai ông. Bản thân tôi, tôi cho rằng, thực chất đây chỉ là một giọt nước tràn ly mà thôi. Dù không có “Người phản kháng”, mối quan hệ giữa Sartre với Camus cũng khó mà giữ được toàn vẹn. Vậy cụ thể hơn sự đổ vỡ đó như thế nào? Chúng ta hãy trở lại với một vài sự kiện ở thời điểm cuốn “Người nổi loạn” của Camus ra đời để hiểu rõ hơn điều đó. --PageBreak--
 “Người nổi loạn” vốn chỉ là một khảo luận chính trị. Camus viết nó khi ông đã nổi tiếng với “Người xa lạ”, “Huyền thoại Sisyphe”, “Bề trái và bề mặt”, “Ngộ nhận”, “Caligula”… Không mấy ai nghĩ một cuốn sách khảo luận khô khan như “Người nổi loạn” lại được độc giả đương thời đón nhận nồng nhiệt đến thế. Sách được tái bản liên tục. Camus không mấy ngạc nhiên về sự thành công của cuốn sách. Nhưng Sartre và nhóm “Thời mới” lại không hề tỏ ra thán phục. Thậm chí họ cho rằng, Camus muốn mượn hành vi “nổi loạn chính trị” này để được lưu danh.
Bài phản kích đầu tiên của nhóm “Thời mới” không phải do tự tay Sartre viết mà do Francis Jeanson, một đệ tử thân thiết của ông thực hiện. Trong 20 trang viết nhan đề “Camus hay là một tâm hồn nổi loạn”, Jeanson đã mạt sát “Người nổi loạn” hết sức nặng nề. Tác giả “Người xa lạ” viết bài trả lời gửi chủ bút Sartre với ngụ ý ông đã ném đá giấu tay. Trong bài viết của mình, Camus đã gọi người bạn một thời của ông là “Ngài Tổng biên tập” (Monsieur directeur). Sartre buộc phải lên tiếng trả lời, nhưng dường như đã không kiềm chế được mình, ông nói với giọng điệu lịch sự nhưng mỉa mai và khinh mạn: “Trời ơi, Camus, sao anh trịnh trọng thế và để dùng một chữ của anh, sao anh tầm phào thế! Nếu anh đã lầm? Nếu cuốn sách của anh chỉ chứng minh một cách đơn giản sự không thông thạo triết học của anh? Nếu nó chỉ là một mớ kiến thức thu lượm vội vã, học lỏm. Nếu anh lý luận không đúng lắm? Nếu những tư tưởng của anh hời hợt và tầm thường?(…). Quả thật tôi không dám khuyên anh đọc cuốn “Hữu thể và hư vô”, việc đọc sẽ gây hiểm hóc cho anh: anh ghét những khó khăn tư tưởng”.
Camus không trả lời. Những lời lẽ của Sartre đã chạm vào nỗi đau sâu kín nhất của ông. So với Sartre, người xuất thân trong gia đình tư sản, khá hoàn hảo về mặt học hành, Camus chỉ là công dân của khu phố nghèo Belcourt, Algérie. Sartre từng đỗ thạc sĩ triết học, và có thể đọc dễ dàng Husserl bằng tiếng Đức. Camus không được chấp nhận thi thạc sĩ vì mắc bệnh lao và việc đọc trực tiếp Husserl với ông là điều hết sức khó khăn. Vì thế, một con người có tâm hồn quá nhạy cảm như Camus đã thật sự khó khăn khi gần gũi với Sartre.
Giải thưởng Nobel năm 1957 của Camus sẽ không còn là một vinh dự của trường phái hiện sinh. Bảy năm sau, 1964, đến lượt mình khi được trao giải Nobel, Sartre đã kiên quyết từ chối. Ông lập luận rằng: “Thật không công bằng đối với độc giả khi cộng thêm sức nặng của những ảnh hưởng bên ngoài như thế vào với sức mạnh ngôn từ của tác giả”. Nhà tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh một lần nữa khẳng định tính độc lập, hành vi tự do của thứ chủ nghĩa bấy lâu nay đeo đuổi mình.
Về hành động lập dị của Jean Paul Sartre (từ chối một vinh dự lớn với món tiền thưởng gần một triệu đôla), lúc ấy cũng có người suy đoán rằng, hẳn Sartre vẫn chưa quên cuộc tranh cãi với Camus, hơn chục năm trước đó. Sartre không muốn đứng cùng chiến tuyến với người “không thông thạo triết học” trên “mặt trận Nobel” (?!). Suy luận đó là vô căn cứ. Một nhà văn tài năng như Sartre không thể nào lại hẹp hòi đến thế. Bằng chứng cho thấy là vào năm 1960, khi Camus qua đời vì tai nạn ôtô, trong bài tưởng niệm trước linh hồn người bạn, Sartre đã bày tỏ sự chân thành thống thiết: “Vừa mới hôm qua, chúng tôi vẫn còn hỏi nhau: anh ấy liệu có lên tiếng không? Sớm muộn thế nào rồi anh ấy cũng lên tiếng… Tôi thầm hỏi: Anh nghĩ sao? Anh nghĩ sao lúc này đây?”.
Không chỉ thế, cũng trong bài tưởng niệm, Sartre thừa nhận lúc đó, Camus đã có phần đúng, và rằng: “Anh tiêu biểu cho con người đạo đức - tác thành tác phẩm, có lẽ độc đáo nhất trong văn học Pháp”. Sartre sẵn sàng giúp đỡ, kể cả về mặt tài chính cho vợ con Camus. Thật đúng như Vercier và Lecarme đã khẳng định trong cuốn “Văn học Pháp từ năm 1968”: “Kể từ sau năm 1968, nền văn học của chúng ta không có nhà văn nào có thể thay thế được Sartre và Camus…”
Trần Hinh

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

TRẢ LẠI VỊ TRÍ XỨNG ĐÁNG CHO NHỮNG TÁC PHẨM GIÁ TRỊ - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Tính từ khi tiểu luận Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ và bài thơ Tình già của Phan Khôi được công bố trên Tập văn mùa xuân, phụ san của Báo Đông Tây Xuân Nhâm Thâm 1932, và trên báo Phụ Nữ tân văn ngày 10-3-1932, phong trào Thơ Mới ra đời đến nay đã tròn 80 năm. Tính từ khi Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm giám đốc tuần báo Phong Hóa vào ngày 22-9-1932, chuẩn bị cho sự ra đời của Tự Lực văn đoàn sau đó[*], 80 năm cũng đã trôi qua. Nhân dịp này, một số cơ quan nghiên cứu và giảng dạy văn học trân trọng kỷ niệm hai sự kiện văn học lớn, có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình hiện đại hóa văn học nước ta. Là sản phẩm của lịch sử và văn hóa Việt Nam, chịu ảnh hưởng bởi những biến động chính trị, xã hội, kinh tế trong tám thập niên vừa qua, hai hiện tượng văn học nói trên đã trải qua những chặng đường gập ghềnh trong sự tiếp nhận, thưởng thức và đánh giá. Trong những hoàn cảnh cực đoan, có lúc Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn đã bị xem là những hiện tượng văn học suy đồi, tiêu cực, thậm chí có hại cho việc giáo dục đạo đức và thẩm mỹ. Đường lối Đổi mới xã hội và văn hóa, văn học khởi xướng từ năm 1986 đã góp phần cứu vớt số phận của hai trào lưu văn học này, “chiêu tuyết” cho nó và từng bước đưa nó trở lại với đời sống. Những thi phẩm công bố trước 1945 của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Đoàn Phú Tứ, Nam Trân, Phạm Hầu, Xuân Tâm, Đinh Hùng… lần lượt được in lại với số lượng lớn. Truyện ngắn, tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu… cũng được tái bản và phát hành rộng rãi, chứ không phải là tài liệu hạn chế trong thư viện chỉ dành cho một số ít nhà nghiên cứu tiếp xúc mà thôi. Một số bài thơ hay của văn học lãng mạn được đưa vào các tuyển tập, được bình giảng trong sách giáo khoa trung học, được chọn làm đề thi tú tài và đại học. Hầu hết các nhà thơ, nhà văn nói trên cùng tác phẩm của họ được khảo sát trong các tiểu luận, luận văn, luận án ở nhà trường đại học. Có thể nói một trong những thành tựu lớn nhất của khoa nghiên cứu, phê bình văn học thời kỳ Đổi mới là việc phân tích, nhận thức lại những hiện tượng văn học quá khứ đã từng bị đánh giá bất công, từ đó đi đến nhận định khách quan và xác lập cho nó vị trí xứng đáng trong văn học sử. Những nhận xét thỏa đáng về các hiện tượng văn học ấy của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trước 1945 và của những nhà nghiên cứu ở miền Nam trước 1975 như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Đặng Tiến, Lê Huy Oanh, Bùi Đức Tịnh… được thừa nhận. Một số nhà nghiên cứu từng nặng lời với Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn trước đây cũng thay đổi cách nhìn. Đặc biệt, từ cuối những năm 80 thế kỷ trước đến nay, nhiều công trình cá nhân và tập thể đã được biên soạn trong tinh thần khoa học, giúp người đọc cảm và hiểu sâu hơn những tác gia, tác phẩm của một giai đoạn văn học phát triển mạnh mẽ vào những năm 1932-1945. Có thể kể ở đây một số cuốn sách tiêu biểu: Thơ Mới – những bước thăng trầm của Lê Đình Kỵ, Mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa… của Vương Trí Nhàn, Về Tự Lực văn đoàn của Nguyễn Trác và Đái Xuân Ninh, Tự Lực văn đoàn – con người và văn chương của Phan Cự Đệ, Tự Lực văn đoàn – trào lưu và tác giả của Hà Minh Đức, Ba đỉnh cao Thơ Mới của Chu Văn Sơn, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca do Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên… Trong các nhà nghiên cứu về Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn, chúng tôi muốn nhắc đến hai tác giả với sự trân trọng về lao động công phu, kiên trì và hiệu quả. Đó là Hà Minh Đức, giáo sư đầu ngành văn học, với một loạt công trình biên khảo, sưu tầm, ghi chép về các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ trong bộ sách được lần lượt xuất bản khoảng năm năm gần đây. Thuộc thế hệ trẻ hơn, Vu Gia chuyên tâm nghiên cứu về những tác gia thành viên của Tự Lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thế Lữ. Bộ sách của ông cuốn nào cũng dày từ ba trăm trang đến gần một ngàn trang, đầy ắp tư liệu mới làm cơ sở cho những nhận định bổ sung vào những khoảng trống văn học sử. Những công trình nghiên cứu đa dạng và đa diện về phong trào Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn cho thấy đây là những hiện tượng “một đi không trở lại” trong lịch sử văn học dân tộc, có giá trị đích thực và sức sống dài lâu, còn có thể được tiếp tục khám phá. Bằng chứng là dưới ánh sáng của thi pháp học, phong cách học, lý thuyết tiếp nhận, văn bản Thơ Mới và văn xuôi Tự Lực văn đoàn bộc lộ vẻ đẹp và sự phong phú của nó, đồng thời cho thấy tiếng vang của nó còn ngân xa trong lòng các thế hệ văn thi sĩ và độc giả đến sau. Tất nhiên, mọi hiện tượng văn học đều có những giới hạn lịch sử của nó. Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn cũng không là ngoại lệ. Kỷ niệm hai sự kiện văn học này không phải là dịp để chúng ta tôn vinh những khuôn mẫu không hề bị vượt qua mà quan trọng hơn là rút ra những bài học cho những cách tân hôm nay. Thời đại mới, con người mới luôn luôn cần những tiếng nói nghệ thuật mới. Trân quý những tiếng nói nghệ thuật cũ không có nghĩa là mãi mãi nằm trong bóng râm và vùng từ trường của nó. Trên thực tế, văn học ở những địa bàn khác nhau của đất nước, từ cuối những năm 50 thế kỷ trước đến nay, đã có những bứt phá và đột phá mà có lẽ lúc đương thời những Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu…, dù đầy tài năng, cũng chưa thể hình dung được.  

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG 
 [*] Nguyễn Tường Tam chính thức được ghi tên Directeur (Giám đốc) trên trang bìa báo Phong hóa số 14, ra ngày 22-9-1932. Đến số 87, ra ngày 02-3-1934, Phong hóa mới công bố Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn.

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

NGUYỄN ĐỨC SƠN, CHÂN DUNG VÀ HUYỀN THOẠI - NGUYỄN MẠNH TRINH

Nguyễn Đức Sơn - Tranh Đinh Cường

Nguyễn Ðức Sơn là một khuôn mặt thi sĩ lớn của văn chương Việt Nam. Một phong cách văn chương riêng, một mình một chiếu, thơ và văn bộc lộ một tâm thái suy tư khác thường đi ngược lại dòng sống thay vì xuôi chảy.
Ông là người làm thơ mà cuộc sống văn chương và đời thường đã tạo thành nhiều huyền thoại. Những chuyện kể về, những giai thoại nói đến, một chân dung tác giả khác thường được tạo dựng và người đọc, không phải chỉ ở những lớp sau mà ngay ở lớp cùng thời, đã có những nhận định sai lạc về chân dung thực con người thực. Ðó là không kể, như ở trong nước, vì lý do lợi nhuận đã có những cuốn sách khai thác quá độ đời tư để đến thành những khoảng cách thật xa với thực tế.

Bao nhiêu quyển sách, bao nhiêu bài báo đã nói về Bùi Giáng, về Trịnh Công Sơn, về Nguyễn Ðức Sơn…. Và đã có bao nhiêu ngộ nhận xảy ra vì những chi tiết trái ngược nhau từ bài viết này với cuốn sách khác của một chân dung tác giả. Ðộc giả, có lẽ phải có sự cẩn thận khi tiếp cận với những vấn đề đó.
Thí dụ, như trường hợp nhà thơ Nguyễn Ðức Sơn. Có rất nhiều bài viết về ông, của những người quen thân có, quen sơ có và nhiều khi không quen cũng tự nhận là quen có. Trong đời thường, Nguyễn Ðức Sơn có nhiều bi kịch. Và nhiều bài viết khai thác những bi kịch ấy. Thí dụ như “Người đàn bà trên đồi cỏ” của Ðào Hiếu đăng trên báo Xuân Doanh Nhân Sài Gòn cuối năm 2008.
Ðào Hiếu viết về mối tình của Nguyễn Ðức Sơn và Phượng đầy thiên kiến và hình như bày tỏ một nhận xét nào không thiện cảm. Và lạ lùng cũng đều nhắc đến Trịnh Công Sơn:
“Nhưng tôi biết nàng rất đẹp.
Trịnh Công Sơn cũng biết nàng rất đẹp.
Nguyễn Ðức Sơn thì chửi bới nguyền rủa mọi thứ. Tôi nói:” Tôi đến đây để tìm một Nguyễn Ðức Sơn vĩ đại nhưng tôi chỉ gặp một Phượng vĩ đại. Nếu không có người đàn bà này, ông đã chết rồi Sơn ạ!…
…Năm 1972, Nguyễn Ðức Sơn trốn lính về tá túc ở Bình Dương dạy Anh văn tại một tư thục. Nếu không gặp Phượng hắn sẽ chẳng có tác phẩm nào ra hồn. Phượng rọi hào quang của nàng vào cái đầu mê gái tơi bời của hắn và hắn được cô “độ” cho thành… thi sĩ. Tác phẩm “Ðêm nguyệt Ðộng” ra đời từ dòng nước cam lồ róc rách tuôn ra từ nhục thể của “thánh cô Annie Phượng”
…Nhưng những vần thơ mê gái thượng thừa ấy cũng không lay động được Annie Phượng. Chàng khóc lóc rên xiết quỳ lạy… cũng chẳng ăn thua bèn dùng khổ nhục kế. Nếu như ngày nay thì chàng thi sĩ sẽ quấn chất nổ quanh mình rồi lao vào “đánh bom tự sát” nhưng Nguyễn Ðức Sơn thời đó đã trèo lên thành giếng và kêu lên “Bớ Chúc Anh Ðài! Ta chết đây” làm Phượng hoảng hốt. Cuộc hôn nhân bắt đầu như vậy…”Cuộc sống của gia đình Nguyễn Ðức Sơn ở Phương Bối Am cũ là một thảm kịch. Sống như những sơn nhân, thiếu thốn tiện nghi đời sống và luôn luôn bị cái đói đe dọa. Một bữa cả gia đình gồm hai vợ chồng và 3 đứa con bị trúng độc vì ăn rau rừng và một đứa con bị chết. Bà mẹ phải lấy áo rách của mình ra vá để khâm liệm cho con.
Một lần khác khi chữa cháy rừng Phượng bị phỏng nặng. Nguyễn Ðức Sơn và người con trai lớn Nguyễn Ðức Vân phải băng rừng cáng ra nhà thương tỉnh cứu cấp với bệnh tình rất trầm trọng.
Ðào Hiếu kể:
“Ba hôm sau Trịnh Công Sơn từ Sài Gòn lên ghé bệnh viện Bảo Lộc.
“Sơn Núi” hỏi “mày lên đây làm gì?”
Sơn Nhạc Sĩ đáp:”Thăm Phượng. Sao nỡ hành hạ người ta đến vậy?”.
“Sơn Núi” bỏ đi. Trịnh Công Sơn ở lại với các con của Phượng. Có lẽ hôm đó là một ngày của năm 1982. Tôi không biết và các con của Phượng cũng không biết chính xác là ngày nào và tháng nào. Trịnh Công Sơn đã tặng cho gia đình Nguyễn Ðức Sơn 60 triệu đồng. Thời điểm đó số tiền ấy rất lớn. Nó đã cứu Phượng và giành giật Phượng khỏi tay tử thần.”
Một nhà văn cũng quen thân với Nguyễn Ðức Sơn là Nguyễn Ðạt nhận xét về bài viết của Ðào Hiếu:
“Và bài báo của Hà Danh (tức Ðào Hiếu) lúc tôi đọc ở Sài Gòn thấy có nhiều sự kiện về Sơn Núi, về Phượng quá lạ lùng quá không đúng sự thật như tôi biết. Nói chung đọc xong cả bài “Người đàn bà trên đồi cỏ” tôi muốn đề nghị tác giả nên chuyển thể thành một vở tuồng cải lương và Hà Danh rất có khả năng trở thành một soạn giả cải lương ăn khách nhưng khác hẳn với những sọan giả tuồng cải lương như Viễn Châu. Tôi chưa thấy Viễn Châu dựng khống một sự kiện liên quan trực tiếp tới nhân vật vụ việc nào có thật ở ngoài đời. Nên khi tôi vừa lấy tờ báo ra Sơn Núi liền nói: “đ.m. cái lão đào hang càng đào sâu càng tối đặc!”. Tôi không hiểu gì hết. Hóa ra, Sơn Núi gọi nhà văn Ðào Hiếu là đào hang và Sơn Núi nói Hà Danh là bút hiệu khác của Ðào Hiếu. Tôi rất ngạc nhiên khi biết vậy và khá buồn bởi tôi quen biết nhà văn Ðào Hiếu và mến ông. Tôi thấy Ðào Hiếu là một người rất văn nhã lần gặp gần nhất tại một quán cà phê trên đường Trần Quốc Thảo tôi nhận lời viết về Nguyễn Ðức Sơn cho trang web của ông, hình như tên là ” Lề bên trái”. Sau đó tôi được nhiều người bạn cho biết những gì Ðào Hiếu viết không bảo đảm trung thực nên tôi không thể viết bài về Nguyễn Ðức Sơn cho báo mạng của nhà văn Ðào Hiếu được dù đã nhân lời.
Sơn Núi nói: “không thể hiểu lão đào hang ở chỗ nào ra cái vụ việc “nhạc sĩ hàng đầu về đầu hàng” họ Trịnh cho tôi sáu chục triệu đồng nhờ đó Phượng thoát chết.” Phượng, Nguyễn Ðức Lão con trai út anh của hai cô em sinh ra sau chót năm nay 27 tuổi, và Tiểu Khê con gái út của Sơn núi cũng không hiểu người viết bài về họ lấy ở đâu ra vụ việc Trịnh Công Sơn tặng Nguyễn Ðức Sơn sáu chục triệu đồng vào cái năm một chín tám mấy đó số tiền ấy rất lớn. Phượng nói: “Trịnh Công Sơn ghé lên đây hai lần trong một chuyến đi chơi ở Ðà Lạt. Lúc lên tặng một thùng mì chay ăn liền lúc về tặng một thùng “légume”Ðà Lạt, vậy thôi, chớ làm gì co vụ việc sáu chục triệu đồng.” Sơn Núi xác định thêm: “Ông không tin cứ hỏi Bửu Ý, người rất sùng mộ Trịnh Công Sơn và rất không ưa tôi, coi Bửu Ý nói sao về vụ việc Trịnh Công Sơn cứu tử hoàn sanh bà xã tôi với số tiền sáu chục triệu đồng”. Ngay sau khi đọc bài báo tôi hỏi họa sĩ Trịnh Cung bạn thân của Trịnh Công Sơn có biết vụ việc nhạc sĩ họ Trịnh tặng Sơn Núi 60 triệu? Trịnh Cung bảo không biết vụ đó. Thế thì tôi cực kỳ ngạc nhiên không thể hiểu nhà văn Ðào Hiếu lấy ở đâu ra cái tin động trời đất đó. Trong bài ký tên Hà Danh ông viết đại ý rằng ông không nhớ rõ, những người con của Phượng cũng không nhớ rõ ngày tháng nào nhưng là những năm của thập niên 1980 và 60 triệu đồng cũa Trịnh Công Sơn tặng thời gian đó là lớn lắm. Tôi hỏi Sơn Núi – Ðào Hiếu ‘phịa” chuyện ấy thì quá sức bậy, người trong vụ việc có thể thưa kiện ở tòa án không hiểu sao Ðào Hiếu lại phịa như vậy nhỉ? Sơn Núi nói ngay” Thì lão muốn gia nhập “fan club” của Trịnh Công Sơn mà ông không thấy một loạt bài đánh bóng Trịnh Công Sơn trong tờ báo này hả? Này lão đào hang viết” Tôi thấy Phượng đẹp / Trịnh Công Sơn cũng thấy Phượng đẹp. Phải lôi lão “nhạc sĩ hàng đầu về đầu hàng” cùng khen Phượng đẹp thì Phượng mới đúng là đẹp”.
Tôi không biết nhà văn Ðào Hiếu gặp Phượng từ năm nào, chứ từ vài chục năm nay, Phượng quá hom hem gầy guộc. Tôi xót xa khi thấy Phượng “lai”, là lai người dân tộc Tây nguyên ở vùng sâu vùng xa chứ không được như người dân tộc ở thị xã B’lao này. Bài báo “Người đàn bà trên cỏ”, câu chuyện tào lao trá ngụy, Sơn Núi và tôi thà nói chuyện bậy bạ thô tục còn hay hơn sáu chục triệu lần..”
Một thực tế văn học là nhiều khi những huyền thoại văn chương lại phát nguồn từ những bài viết khơi khơi như thế. Ở trong nước với người đọc của dân số hơn 80 triệu một thị trường béo bở thì việc để câu khách lôi kéo độc giả cho mục đích bán sách bán báo, đã có bao nhiêu bài viết về Trịnh Công Sơn, về Bùi Giáng, về Phạm Công Thiện, về Nguyễn Ðức Sơn.. tràn lan như một mốt thời thượng. Thành ra, con người nghệ sĩ của văn chương nhiều khi bị nhòa nhạt đi vì những bài viết kiểu của ông “lạc đường” Ðào Hiếu này.
Nguyễn Ðức Sơn, một nghệ sĩ quái dị. Một trong những nhà thơ tiêu biểu của hai mươi năm văn học miền nam. Một trong những nhà văn luôn đi tìm trong cuộc sống những câu trả lời không thể trả lời. Một trong những người không thể thỏa hiệp với cuộc đời và đi ngược dòng sống với thái độ hung hăng gây gổ. Một trong những người sống trong những bi kịch của loài người. Một trong những người sống phân hai giữa đời thơ và đời thường, giữa tu tập và buông thả, giữa dục tính và lãng mạn. Thế giới của Nguyễn Ðức Sơn là một thế giới kỳ quặc mà con người phân chia thành nửa này nửa kia luôn luôn chống đối nhau và không bao giờ thỏa hiệp với nhau. Nguyễn Miên Thảo đã viết về mẫu người thi sĩ đặc biệt này:
“Nguyễn Ðức Sơn là một người đầy cá tính mà nếu không hiểu thì tưởng là khó tính. Tính cách của ông khác người luôn luôn mâu thuẫn với chính mình. Tôi nghĩ sự “va chạm” nội tại đã đưa ông tới đỉnh điểm của sáng tạo trong tác phẩm của ông. Tâm địa của ông thì rộng bao la nhưng hay… thù vặt, rất mê chủ nghĩa Cộng sản nhưng không ưa “cách mạng” sẵn sàng chửi cả những người khen ngợi ông dù người khen rất thật tình và có nhân cách nhưng trong bụng nguyễn Ðức Sơn thì sướng rơn. Tôi ví dụ một câu chuyện nhỏ. Sau khi tập thơ Những Bài Tình Ðầu ra đời, nhà văn Tam Ích, một nhà văn đứng đắn và nổi tiếng thời đó viết một bài phê bình khen thơ Nguyễn Ðức Sơn hết lời. Nguyễn Ðức Sơn viết một bức thư ngắn nhờ tôi đem về Sài Gòn trao tận tay nhà văn Tam Ích. Nội dung lá thư không phải là lời cám ơn mà vỏn vẹn một dòng chữ như sau: “Bởi vì ông là nhà văn đứng đắn nên tôi không biết chửi ông như thế nào.” Nhà văn Tam Ích nhận thư không giận lại viết thêm một bài ca ngợi Nguyễn Ðức Sơn là thiên tài mặc dầu không nói ra nhưng tôi biết Nguyễn Ðức Sơn sướng trong bụng lắm. Sướng không phải được khen mà vì có cơ hội để chửi người khác…”

Và chuyện kể về mối tình của chàng thi sĩ dị thường kỳ quặc :
“Cuộc tình của Nguyễn Ðức Sơn và cô học trò Nguyễn Thị Phượng chín mùi khi nào thì quả tình tôi không hay biết. Một hôm vào khoảng giữa năm 1967-1968 gì đó tôi không nhớ đích xác Nguyễn Ðức Sơn nhờ tôi lên báo với thầy Thanh Tuệ in gấp tập thơ Ðêm Nguyệt Ðộng để kịp ngày đám cưới. Và khoảng mười ngày sau đám cưới Nguyễn Ðức Sơn- Nguyễn Thị Phượng dược tổ chức tại chùa Tây Tạng Thủ Dầu Một Bình Dương.
Từ sáng sớm một chiếc xe con 4 chỗ ngồi đỗ trước nhà Nguyễn Ðức Sơn, Sơn trong bộ com-lê màu sẫm sang trọng đầu húi cua đã chờ sẵn đón những người trên xe bước xuống đó là Ðại Ðức Thích Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm, giáo sư nhà văn Bửu Ý và Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh tức nhà thơ Phạm Công Thiện, Khoa trưởng Văn Khoa Ðại Học Vạn Hạnh. Khi biết tập thơ Ðêm Nguyệt Ðộng không in kịp Nguyễn Ðức Sơn chào đón đoàn nhà trai một câu chửi “Ð.m. thầy thầy có biết ngày hôm nay là ngày trọng đại của tôi không?” Thầy Thanh Tuệ cười trừ còn mọi người thì đã biết Nguyễn Ðức Sơn là ai rồi.
Ðám cưới cử hành tại đại điện chùa Tây Tạng. Thượng tọa Thích Trí Bổn trụ trì chùa, cậu ruột của cô dâu Nguyễn Thị Phượng đại diện nhà gái vừa là chủ hôn (Phượng mồ côi cha mẹ về ở với cậu từ nhỏ). Ðại Ðức Thích Thanh Tuệ đại diện nhà trai, Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh ( tức nhà thơ Phạm Công Thiện) và nhà văn Bửu Ý phụ rể. Trong khi niệm hương lễ Phật, Thượng tọa Thích Trí Bổn và Ðại đức Thích Thanh Tuệ quì phía trước, Sơn và Phượng quì phía sau. Sơn dùng miệng mum hết chân nhang khi cắm nhang vào lư ba cây nhang của Sơn lùn tịt không giống ai. Khi qua làm lễ cáo tổ tiên Sơn láy mắt với tôi, tôi nghĩ Sơn bày trò gì đây nhưng không nghĩ ra. Bàn dọn cỗ là loại bàn tròn bằng gỗ mạt bàn rời đặt trên cái giá bốn chân hình chữ X, Sơn và Phượng quì trước bàn cáo tổ tiên lậy bốn lạy Sơn lạy thêm một lạy trồi người tới trước khi đứng dậy đầu dội vào cạnh bàn cỗ bàn bị lật đổ không còn một món. Những người dự lễ cưới không ai không cười trừ Bửu Ý.
Một tuần lễ sau đám cưới tôi từ Sài Gòn về Bình Dương thăm vợ chồng Nguyễn Ðức Sơn vừa bước vào nhà tôi thấy Sơn cầm một con dao dí Phượng vào sát vách. Tôi kêu lên. Sơn làm gì vậy? Sơn vứt dao choàng vai tôi bước ra ngoài “Moa muốn đo sự sợ hãi của Phượng như thế nào!”…”
Trong bài viết của Thái Ngọc San, một nhà văn Việt Công nằm vùng trước năm 1975 khi viết về đời sống gia đình của Nguyễn Ðức Sơn trong truyện ngắn “Bầy Thú Hoang Dã” đã phác họa những người trong gia đình không khác lắm so với những thú rừng hoang dã. Gia đình đông con, vợ thì yếu dại làm sao mà không nghèo khổ cơ cực. Thái Ngọc San nhìn vào bề mặt đời sống ấy mô tả và có chút phê phán rằng nguyễn Ðức sơn có dã tâm của loài thú và tự mình tạo ra những bi kịch đời sống cho gia đình mình. Nhận xét ấy là của người không đi sâu được vào phần trong của cuộc sống ấy.
Nhưng có người viết nhìn bằng con mắt quan sát khác. Chân dung thi sĩ Nguyễn Ðức Sơn là một chân dung đặc dị , mà những chi tiết thường khi trái ngược nhau từ những quan sát nhận xét khác nhau. Nhà văn Nguyễn Ðạt một người có rất nhiều gần gũi với đời thường Nguyễn Ðức Sơn viết:
“Hiển nhiên qua cách nhìn nhận như Thái Ngọc San ở truyện ngắn này thì chỉ ghi lại cái bề mặt của cuộc sống Nguyễn Ðức Sơn và mặc nhiên với những trách cứ phê phán của người quan sát thiếu tâm tình.
Trong gần gũi Nguyễn Ðức Sơn nhiều ngày tháng chúng tôi hiểu rõ nhà thơ Nguyễn Ðức Sơn không hề có dã tâm của loài thú để tạo nên đời sống như Thái Ngọc San đã ghi nhận Ðó là cuộc sống cực chẳng đã phải như vậy mà thôi muốn khác đi cũng không được. Nguyễn Ðức Sơn không biết làm gì khác để thay đổi cuộc sống như bầy thú hoang dã, ông lại càng không thể tính toán bon chen giành giựt với nhân thế. Trên trái đồi rộng bốn năm héc-ta ông không biết và cũng không ưa trồng loại cây nào cho có lợi nhuận ngoài cây thông mà ông yêu thích. Cũng vì Nguyễn Ðức Sơn chăm chút nuôi trồng thông từ mấy chục năm nay trái đồi mang tên Phương Bối ở thôn Ðại Lão xã Lộc Châu bây giờ gần như là nơi duy nhất để ngàn thông còn tồn tại trên cao nguyên hoang sơ Bảo Lộc…
Sự thật mà chúng tôi biết Nguyễn Ðức Sơn đầy tình cảm yêu thương con người như mọi người thiện tâm khác. Lần Phượng bị bệnh thập tử nhất sinh phaỉ giải phẫu tại bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi ngồi bên ông ngoài hành lang trước phòng giải phẫu. Ông rất căng thảng chờ đợi kết quả phẫu thuật. Chợt có tiếng cô y tá kêu lớn tên ông nước mắt ông tuột ra chảy dài trên khuôn mặt. Ông ngỡ cuộc phẫu thuật thất bại. Phượng đã chết! Hóa ra không phải cô y tá gọi ông để báo tin lành. Và Nguyễn Ðức Sơn cẳng nhảy lên như đứa trẻ vui mừng tột độ.
Lần một đứa con của Nguyễn Ðức Sơn bị bệnh nằm liệt giường chúng tôi cũng có mặt trên đồi Phương Bối. Ông cuống cuồng chạy xuống đồi hỏi người này người kia để chữa chạy kịp thời cho con. Có người bày cách cho người bệnh ăn thịt cóc sống. Ông hét vang như hóa điên vì gặp ngay người bán thịt cóc đi ngang qua. Mang thịt cóc về cho đứa con ăn ngay chợt ông nhớ cả gia đình vốn ăn chay trường ông vội thắp nén hương niệm Phật xin xá tội. Ðứa con vừa nuốt miếng thịt cóc lập tức nôn mửa thốc tháo. Ông lại cuống cuồng lại chạy xuống đồi kêu xe ôm, ôm con ngồi lên xe đưa vào bệnh viện. Ở bệnh viện lúc đứa con đã an toàn đã đi đứng trở lại bấy giờ mới để ý ông chỉ mặc quần cụt mà lại thủng rách cả đũng. Nhưng Nguyễn Ðức Sơn lúc đó vui rộ lên nói lắp bắp những câu hí lộng về cái quần thủng rách…”
Ðời sống của một thi sĩ như Nguyễn Ðức Sơn đầy những biến cố của bi kịch. Là người ngông cuồng kiêu ngạo không coi ai ra gì và ăn nói lỗ mãng dung tục hay chửi thề? Là một người nổi loạn vô chính phủ dùng văn chương để quăng quật vào đời sống những hằn học chất chứa? Là một người không thừa nhận bất cứ một trật tự nào trên thế giới nhưng lại coi thi ca như một tôn giáo linh thiêng?
Tuệ Sĩ đã hỏi về khuôn dáng Nguyễn Ðức Sơn:
“Anh là ai? Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn, quậy phá? Dưới ngòi bút phê bình anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng và những ấn tượng mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một cái gì đó, ở đâu đó.. ”

Với tôi, trong cảm quan của riêng mình, tôi thấy khi đọc thơ hoặc truyện ngắn của Nguyễn Ðức Sơn, tôi mường tượng thấy hình như thế giới của ông không phải là của mặt đất hiện hữu này. Ông sống như để muốn biểu lộ những suy nghĩ bị khép kín bị đóng băng. Thành ra ông như một con tê giác ( tượng hình mà nhà văn Bửu Ý gán cho ông) cứ húc vào hư vô như một phản ứng tự nhiên của một người hình như không còn lý đến căn cước của mình mà vẫn phải sống, vẫn phải trôi theo dòng đời trong khi muốn ngược lại để bơi vào cái khu vực thâm u của chính mình nhưng cũng chưa hề hiểu rõ điều gì là huyễn ảo và điều gì là thực tế.
• Nguyễn Mạnh Trinh

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM

TÍNH HIỆN THỰC VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO
TRONG THƠ TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM
QUA “THƯƠNG SƠN THI TẬP”

NGUYỄN PHƯỚC BẢO QUYẾN

Trong vườn hoa đầy sắc hương của văn học Việt Nam thế kỷ XIX, Tùng Thiện vương Miên Thẩm, hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng, là một cây bút tài hoa, một nhà thơ nổi tiếng. Tùng Thiện vương đã để lại cho đời một khối lượng trước tác khá lớn, văn cũng như thơ. Về thơ, chỉ riêng Thương Sơn thi tập cũng đã gồm đến chín tập(1 ) (khi khắc in bằng bản gỗ năm 1872 được gộp lại còn tám tập và chia thành 54 quyển với trên dưới 2500 bài thơ). Đây là tập thơ làm nên danh vị “thất Thịnh Đường”( 2) của Vương. Thương Sơn thi tập là tâm huyết của cả cuộc đời Ông Hoàng Mười; là thao thức, dằn vặt trong sâu thẳm của tâm hồn một con người luôn luôn suy nghĩ về bản thân cũng như thế giới xung quanh mình: nhân dân, đất nước. Một cách khái quát, có thể nói Thương Sơn thi tập là tập thơ chữ Hán có qui mô vào loại lớn nhất trong thế kỷ XIX. Qua hệ thống cấu trúc nội dung cũng như qua hệ thống đề tài, chủ đề, hình tượng và thể thơ, tập thơ đã kế thừa và phát huy được những giá trị nội dung cùng nghệ thuật truyền thống của văn học trung đại. Trong một số mặt, Thương Sơn thi tập có thể đối diện với thơ Đường, khẳng định khả năng sử dụng chữ Hán trong nghệ thuật văn chương của người Việt không thua kém gì người Trung Quốc.Và xét trong chiều sâu của nội dung phản ánh; của tư tưởng, tình cảm sáng tác, Thương Sơn thi tập là tiếng nói thiết tha của Tùng Thiện Vương trước những vấn đề lớn của quê hương, đất nước và của bản thân nhà thơ. Bên cạnh mảng thơ bộc lộ xu hướng muốn sống cuộc sống ẩn sĩ, nhàn tản, tiêu sái, xa lánh lợi danh là mảng thơ thể hiện lòng ưu thời mẫn thế, lo lắng cho tiền đồ của đất nước, dân tộc. Bên cạnh mảng thơ thể hiện ý thức bảo vệ trật tự phong kiến, ý thức tôn quân, trung quân là mảng thơ phản ánh hiện thực đen tối của thời đại, đất nước trước và sau khi bị thực dân Pháp xâm lượctrong đó nổi bật mảng thơ phản ánh cuộc sống cùng khổ bi đát bởi tai trời, ách nước; bởi chế độ quân chủ phong kiến; bởi bọn cường hào, ác bá và bọn tham quan ô lại với nỗi bất bình, phẫn nộ mạnh mẽ, với tấm lòng thương xót, thông cảm sâu sắc...
Mặc dù xuất thân là một vị hoàng tử sống trong quyến quí cao sang nhưng Tùng Thiện vương lại chọn cho mình một cuộc sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên và quần chúng lao động. Thấm nhuần ba nguồn tư tưởng Nho, Lão, Phật, mến mộ cách sống của các bậc hiền nhân cao sĩ trong rừng nho bể thánh, Vương thích cuộc sống vui thú với ruộng vườn; làm bạn với núi đồi khe suối, với sông dài trời rộng, với mây nước gió trăng để thưởng thức thú yên hà phong nguyệt. Do vậy Vương thường đi đây đi đó và càng đi Vương càng thấy nhiều sự việc mà một ông hoàng như Vương nếu không đi thì không thể nào hiểu biết và tưởng tượng ra được như ông từng tâm sự :
Sinh trưởng chốn quí sang
Đói cơm chưa từng biết
Mắt thấy thêm thê thiết …(*)
(Đêm lên đường ở Quảng Lộc)
Sinh trưởng phú quí trung,
Vị tằng giai cơ khách
Xúc mục bội thê thiết …
(Quảng Lộc dạ phát)
Mang tâm hồn Đỗ Phủ đời Đường, Tùng Thiện Vương đã phản ánh những điều “mắt thấy thêm thê thiết” ấy vào trong thơ mình và qua đó bày tỏ lòng xót thương vô hạn đối với nỗi khổ mà người dân phải chịu đựng.
Với tấm lòng nhân hậu, chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo, một lần, trong dịp thanh minh, đi tảo mộ, chứng kiến cảnh một người dân lặng lẽ ngồi khóc bên ngôi mộ mọc đầy cỏ dại nơi cồn hoang trong khe núi lúc màn đêm dần buông xuống, không ngăn được niềm xúc động, Vương đã ghi lại cảnh tảo mộ rất tội nghiệp của người dân ấy qua bài Tảo mộ hành (Bài hành tảo mộ) :
Cồn vắng chim bay, xuân, cỏ lục,
Mưa phùn rây, đêm tối người khóc
Một chén cơm tẻ, một bát canh …
… Giấy tiền lách tách, mây đen vần,
Nước mắt hòa vào khe nước gần.
Dòng khe lặng chảy trôi màu huyết,
Ngủ mãi trong mồ hồn chẳng biết.
Cạy rêu, nhổ cỏ, một mình về,
Ngoái đầu núi đêm lửa ma biếc. (*)
(Hoang khư điểu sí xuân thảo lục
Vi vũ như yên nhân dạ khốc
Nhất vu mạch phạn bán bôi canh …
… Chỉ tiền sách sách âm vân đê
Lệ lưu thiêm thủy chú tiền khê
Khê thủy vô thanh huyết lưu xích
Trủng trung trường miên bất tằng thức
Bát đài tiễn thảo hoàn độc qui
Hồi thủ sơn sơn dạ lân bích.)
Bài thơ tả rõ từng chi tiết mắt thấy tai nghe. Giữa cảnh mưa phùn, trong bóng hoàng hôn, một người ngồi khóc lặng lẽ bên một ngôi mộ nơi cồn hoang vắng vẻ với đồ cúng hầu như chẳng có gì : nửa bát canh, một chén cơm, một xếp giấy tiền ... Trước tình cảnh đó, nhà thơ tự hỏi không biết người chết ngủ trong mồ có buồn không. Cảnh cũng như người, thật buồn thảm, tội nghiệp! Và người chứng kiến cũng buồn không kém. Giọng điệu thơ, hình ảnh thơ gợi lên biết bao thương xót trong lòng người đọc thời ấy cũng như bây giờ.
Nhân dân lao động mặc dù đã phải làm lụng vất vả suốt ngày, suốt tháng, suốt năm nhưng cơm vẫn không đủ ăn, áo vẫn không đủ mặc. Hình ảnh người phu đẩy xe chở đất, đem bát mồ hôi đổi lấy bát cơm cũng đã được Vương ghi lại sinh động qua nét bút đầy trắc ẩn, xót thương trong bài Thổ xa dao (Bài ca xe đất) như sau :
Lạch cạch! Lạch cạch!
Đường đầy, xe chật.
Ngày hết, đêm tàn,
Tiếng xe không dứt ...
... Xe phóng nhanh, mồ hôi đẫm ướt,
Đêm mát còn hơn ngày nóng bức.
Ngẩng mặt nhìn trời xanh,
Máu đọng trong tròng mắt (*).
Cách kiệt ! Cách kiệt !
Mãn nhai xa triệt.
Nhật một, nguyệt một,
Xa thanh bất tuyệt…
… Xa như phong, hãn như tuyết,
Dạ lương do thắng trú chi nhiệt.
Ngưỡng nhất tác thương thiên,
Cao cao nhãn lưu huyết.
Và còn biết bao nhiêu người khác cũng khổ như thế từ người dân phu kéo gỗ trên rừng về xây lầu đài, cung điện phải chịu cảnh “Đá cào gai chích thân rách bươm,/ … Khí lạnh, hổ gầm, nước khe độc/ Ai chẳng có nhà, nhà thiếu ăn/ Khi đi tóc ngắn, về gầy rộc/ Năm ngoái hát hò, nay chỉ khóc – Hò dô ta” (Thạch tuần đãng thích sang mãn thân/ … Lam hàn hổ cao tuyền thủy độc/ Nhân thùy vô gia, gia bất túc/ Hành thời đoản phát, qui vô nhục/ Khứ niên thượng ca, kim thả khốc – Hô ta hồ) cho đến kẻ mò đãi vàng đầu sông ngọn suối “mình trần ngâm dưới nước/ rét cóng gần chết queo (Xích thân một tằng ba/ Đống tử cửu nại tô) để “chỉ mong đủ nộp thuế/ đâu dám mong phần dư” (Đản nguyện túc thường phú/ Yên cảm vọng kỳ dư – Kim hộ thán) nhưng “khốn khổ thay thuế thường khó chạy đủ, đành phải chịu huỷ tàn tấm thân hèn này; bẻ gãy cánh tay há không đau/ May ra được giảm nửa thuế – Lời than của gia đình mò đãi vàng” (Thường phú khổ nan túc/ Toại nhẫn tàn vi khu/ Ảo tý khởi phi thống/ Hạnh đắc giảm bán thu – Kim hộ thán) ... Tất cả những kiếp người ấy đều lâm vào cảnh “trống ruột, rau thay cơm/ cóng xương lửa thế áo – Nhà nghèo”(Hạo tràng sơ thế phạn/ Đống cốt hỏa vi y” – Bần gia). Tình cảnh đáng thương ấy đã đươc Tùng Thiện vương Miên Thẩm ghi lại rất chân thật và đầy xúc động trong thơ mình!
Bên cạnh nỗi khổ cực hàng ngày, nhân dân lao động, nhất là nông dân, còn phải thường xuyên lo lắng tai trời, ách nước. Hạn hán khiến người nông dân vất vả, khổ sở, lo đạp nước mong tưới cánh đồng cháy khô :
Rồng trốn năm nay mưa chẳng có
Nông dân đầm núi đều kêu khổ
Nước mắt dầm, thân đẫm mồ hôi
Tưới đất khô nguyện theo nước đổ … (*)
( Bài hành xe đạp nước)
(Kim niên quai long bất hành vũ
Sơn nông trạch nông các ngôn khổ
Lệ tuyền bị diện hãn mạn phu
Nguyện trục tào lưu chú tiêu thổ … )
(Thủy xa hành).
Đã thế mà lại còn bị cảnh“mới sáng sớm đã có thư lại đến thúc tô đòi tiền” (Tảo hữu thôi tô lại sách tiền – Thủy xa hành). Nhưng vẫn chưa hết khổ! Người nông dân còn phải khổ vì nạn sâu bọ phá hại mùa màng gây nên cảnh mất mùa, đói khổ. Bài “Miêu thương hành” (Bài hành lúa chết non) sau đây đã chỉ ra cảnh khổ của nông dân bị mất mùa vì thiên tai cùng niềm thương cảm của Vương đối với họ :
Ruộng cao hạn hán lúa khô quắt,
Ruộng thấp nước sâu không thấy đất ...
... Ruộng thấp hóa đầm sâu, vạn mẫu
Mạ xanh thước năm cấy không thấu
Ruộng cao đất nẻ hình mai rùa,
Suốt ngày trời thổi miết gió mùa.
Xoay trời chuyển đất ai làm được,
Ruộng thấp xin cho ruộng cao nước?(*)
(Cao điền miêu khô khổ vô vũ
Đê điền thủy thâm bất kiến thổ…
… Đê điền vạn mẫu vi trạch quốc
Xích ngũ thanh ương trừu bất đắc
Cao điền qui triệu tích công cung
Tận nhật xuy sát đông nam phong
Hồi thiên chuyển địa thục năng nhĩ
Đê điền khất dữ cao điền thủy.)
Éo le thay cho người nông dân! Làm ruộng cao thì khô hạn, làm ruộng thấp thì ngập úng. Sức người không điều chỉnh, chuyển hóa được sức trời vì phương tiện canh tác còn quá nghèo nàn lạc hậu đành phải đứng nhìn cây lúa chịu cảnh chết non để rồi phải chịu cảnh mất mùa, đói khổ. Đau xót biết bao!
Năm Tự Đức thứ 18 (1865 – năm Ất Sửu) do hậu quả thiên tai dẫn đến mất mùa suốt bốn tỉnh miền Trung từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi nên dân tình rất khốn khổ . Trước tình cảnh bi đát ấy, đa số người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi phải vượt đèo Hải Vân, dắt díu nhau ra Kinh đô kiếm sống. Nhìn thấy cảnh những người dân xứ Quảng tha phương cầu thực, lang thang đầu cầu cuối chợ, rách rưới, khốn cùng, Vương xúc động viết bài Lưu dân thán (Lời than của dân lưu lạc) :
Thân một người nửa sinh nửa tử,
Đi chẳng được mà dừng cũng khổ ...
... Quê cũ vừa qua lụt, hạn nghiệt,
Khắp nơi lúa xanh thành lúa lép.
Kho lương chẳng đủ cho quân dùng,
Phát chẩn nhiều nhưng bụng vẫn xép.
Vượt ải lên kinh đã hai tuần,
Gầy đét thân, rách bươm áo quần.
Kẻ chết bỏ xác vùi bụi gần,
Người sống rên bò muốn liệt thân.
Thương thay dân bốn huyện Quảng Nam!...(*)
Đọc bài thơ ta thấy thương cảm đến nghẹn ngào trước tình cảnh đói khổ của đồng bào ta trong thiên tai và ta càng cảm động biết bao trước tấm lòng thương xót đầy nhân hậu của nhà thơ. Những lời than thở trong bài thơ không phải chỉ vì mối động tâm bất chợt mà xuất phát từ một cõi lòng chan chứa yêu thương, một tâm hồn giàu lòng nhân ái, giàu thiện cảm với người dân nghèo, cảm thông sâu sắc nỗi khổ của họ.
Nhưng nào đã hết! Hết khổ vì hạn hán nhân dân còn phải khổ vì lũ lụt :
Tháng chín chưa rơi sương,
Lũ nguồn mồng bảy trương.
Mây mờ che nắng sớm,
Nước lớn ngập đồng nương … (*)
(Nước lụt)
(Cửu thu sương vị lạc,
Thất nhật thuỷ sơ qui.
Cự tẩm liên bình dã,
Trùng vân cốt thự huy …)
(Thuỷ)
Thế rồi có biết bao người chết trôi theo dòng nước lũ, biết bao kẻ thiếu đói kêu van! Chứng kiến cảnh ấy lòng Vương không dằn được nỗi xót xa, ái ngại :
Trôi chết, thấy, sầu muộn,
Đói kêu, nghe, xót thương.
Sao đành no ấm hưởng,
Ái ngại lệ buồn vương. (*)
(Nước lụt)
(Kiến sầu vô chửng nịch,
Thân thính hữu đề ky.
Hà ý cam ôn bão,
Hàm tình song lệ huy.)
(Thuỷ)
Hà ý cam ôn bão/ Hàm tình song lệ huy (Sao đành no ấm hưởng/ Ái ngại lệ buồn vương). Biết bao thương xót trong hai dòng thơ ấy !
Bên cạnh lũ lụt, hạn hán lại còn thêm dịch bệnh, lính thú ! Chính những tai ách này đã đẩy người dân trong xã hội thời ấy lâm vào cảnh “hết chốn nương thân” :
… Nông ngư hết sống, khổ cùng cực.
Ruộng mùa lúa chín thu vào kho,
Nước cóng, khó ngâm mình bãi trúc,
Năm canh còi rúc canh phòng hổ,
Đuổi cá tinh sương chống vịt mổ,
Chai cứng chân tay mong đủ no,
Như nhau, đói, rét đều chết bỏ.
Năm nay ma dịch hành ba lần,
Tối còn, sớm chết, tội nông dân.
Trẻ lớn, trẻ bé sung tự vệ,
Chài vợ, chài chồng cùng xuống mộ …
… Sớm muộn sẽ thành lính thú hết,
Chài con về gói xương chài chết. (*)
(Hết chốn nương thân)
(… Vi nông vi ngư khốn sinh lý,
Đạo điền cốc thục tận thâu thương.
Trúc chữ ba hàn nan nhập thủy,
Truyền canh cảnh hổ xuy ngưu giác,
Xung hiểu khu ngư xanh áp chủy,
Thủ túc biền chi vị phục mưu,
Khổ cơ, khổ hàn đẳng chi tử.
Kim niên dịch quỷ tam dộ hành,
Dạ thoại triêu lai nông bất sinh.
Đại nhi tiểu nhi lệ hương dõng,
Ngư phụ ngư phu dữ xuyên trũng.
Tảo vãn tiễn cánh cùng nhung tốt,
Ngư nhi qui lai lõa ngư cốt.)
(Cùng cư)
Vì sao lại phải có cảnh «chài con về gói xương chài chết »? Lý do là :
Năm kia rợ Tây đánh Quảng Nam
Quan quân thua trận máu thành đầm …
… Năm nay dụng binh khắp nam bắc,
Vạn đội quân chia đi đánh giặc …(*)
(Bán áo giấy)
(Nẵng tuế tây di phạm Quảng Nam,
Quan quân chiến bại huyết thành đàm.
… Kim niên dụng binh biến nam bắc,
Cấm quân vạn đội phân bình tặc …)
(Mại chỉ y)
Lính thú chết có người tìm được xác nhưng đa số không tìm được. Sau tin báo của quan quân về cung vua, họ phải tìm mua áo giấy để cúng cầu hồn cho người thân của mình nhưng nào mua được vì ai cũng cần áo giấy :
Đêm qua hịch báo về cung vua,
Già nửa chết tìm không thấy xác.
Xóm đông nhà tây lệ thảm tuôn,
Nhiều năm khởi binh càng đáng buồn
Cơm tẻ canh cá cũng khó gặp,
Xứ nào ham tiền bán áo luôn ?…(*)
(Bán áo giấy)
(Tạc tiêu vũ hịch báo Cam Tuyền,
Cường bán tử vong thi bất đắc.
Đông lân tây xá khốc thanh hy,
Tần tuế quân hưng ích khả bi
Mạch phạn ngư canh diệc nan ngộ,
Hà xứ cầu tiền mại chỉ y ?…)
(Mại chỉ y)
Và đây là hình ảnh người thiếu phụ làm nghề vàng mã không chịu bán áo giấy vì đang cần áo để cúng cầu hồn người thân chết mất xác :
Một gian nhà nát người trú thân,
Quần áo rách bươm, đầu bù rối,
Mặt đầy bụi bẩn buồn thanh xuân.
Giấy mỏng tầng tầng trắng toát đất,
Cắt thành áo phơi trưa nắng gắt
Nghề này hỏi chị lãi bao nhiêu
Nói chẳng ra lời, tuôn nước mắt …
… Người thân tôi có trong số ấy,
Không bán, áo này cần dùng tới,
Cầu trời tạnh ráo áo mau khô,
Kịp đến tối chuyển về âm giới.(*)
(Bán áo giấy)
(Nhất gian phá ốc trung hữu nhân,
Tệ bố già hình loạn bồng thủ,
Châu nhan trần cấu sầu thanh xuân.
Bạc chỉ tằng tằng loát bạch thổ,
Tiễn tác minh y bộc đình ngọ
Vấn cừ nghiệp thử lợi kỷ hà,
Khẩu bất năng ngôn lệ như vũ …
… Thiếp gia thân đảng tại kỳ nội,
Sự vật sở tu bất kỳ mại.
Nguyện thiên tình tể y tảo can,
Cập đáo hoàng hôn tống minh giới.)
(Mại chỉ y)
Tình cảnh của người dân sao mà tội nghiệp! Phải có một tấm lòng đồng cảm sâu sắc với tình cảnh của nhân dân; phải có một tình cảm gắn bó, yêu thương da diết với đồng bào mình mới có được những dòng thơ đầy xúc động như thế!
Rồi Tùng Thiện Vương đã không ngần ngại chỉ thẳng vào nguyên nhân gây nên tình cảnh nghèo đói, cùng khổ của người dân đen trong xã hội đương thời. Đó là nạn hà hiếp, đục khoét của bọn cường hào, quan lại. Xuất phát từ tư tưởng ái dân, Vương càng lên án, kết tội những kẻ hại dân hại nước ấy. Mượn chuyện đôi chim gõ kiến ăn sâu mọt trên cây đại thụ, Vương gay gắt lên án những kẻ sâu dân, mọt nước trong xã hội đương thời qua bài Trác mộc điểu (Chim gõ kiến):
... Bay vào cây đại thụ,
Chim trống chọn được cành,
Biết bao nhiêu sâu bọ.
Miệng thèm mặc sức ăn,
Ngàn vạn, ăn vô số.
Ăn no liền bay đi,
Chim mái tiếp vào đó.
Sâu bọ biết đâu nhờ,
Một đời hết cứu độ.
Mọt cây tội đã đành,
Đâu bằng mọt nước nọ. (*)
(Hùng lai chi thượng nhiễu
Thê đắc hảo thụ chi
Trùng đố bất vi thiểu.
Sàm khẩu tứ sở dục
Bách vạn cung nhất bão
Bão lai khước dương khứ
Thư lai phục như cố.
Xi xi diệc hà liêu
Nhất sinh bất năng độ
Đố mộc tín hữu tội
Hà như bỉ bang đố.)
Càng nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống, Vương càng xót xa trước nỗi khổ của dân lành trong xã hội mình đang sống. Người dân không chỉ phải chịu sưu cao thuế nặng mà còn bị nhiều khoản đóng khác nữa chẳng hạn như lệ phải nộp “tiền trầu cau” mỗi khi “có việc” đến cửa quan. Đến cửa quan là phải nộp tiền hối lộ mà để hối lộ, người dân phải cầm cố cả nhà, bán cả vợ. Tình cảnh bi thương đó đã khiến Vương chua xót, bất bình. Qua bài “Phù lưu tiền hành” (Bài hành tiền trầu) Vương cho ta thấy nỗi khổ của người dân lành trước sự nhũng nhiễu của bọn quan lại:
Sáng đã dâng tiền trầu
Tối lại dâng tiền trầu
Quan lớn có xơi trầu
Dân mới khỏi oan sâu.
Quan lớn trong nhà tiền mục bở,
Dân đen bán nhà, bán cả vợ.
Thân này tuy còn, nhà đã tan,
May thoát gông nghĩa vợ chồng tàn.
Vợ bồng con nhìn chồng từ biệt,
Bên lộ nhai trầu nước mắt chan. (*)
(Triêu tiến phù lưu tiền
Mộ tiến phù lưu tiền
Đại nhân khiết phù lưu
Nãi tuyết tiểu nhân oan
Đại nhân đường trung tiền sách hủ(3)
Tiểu nhân mại gia hoàn mại phụ …
Thử nhân tuy tồn gia dĩ hưu
Gia tỏa hạnh thoát phụ nan lưu
Bảo nhi tạm lai dữ phu biệt
Lộ bàng đối khấp xan phù lưu.)
Người dân lành nghèo khổ đến hạng cùng đinh như người vác tre bán nuôi thân mỗi ngày cũng không khỏi bị hà hiếp, chèn ép, chiếm đoạt của cải … Xót xa trước cảnh ấy, Vương thác lời người bán tre nói lên nỗi oán hận của họ và rất đồng cảm với sự phản kháng trong nỗi đau bất lực của họ :
Ngày vác hai cây bán,
Tiền đủ nuôi bụng chán.
Trong cửa núi tre cao,
Ngoài cửa tiền chẳng trao.
Không nói xiết bao khổ,
Nói ra roi quất người lảnh đủ.
Ôi, than ôi!
Quay về chừ nước mắt chứa chan,
Từ rày về sau tre chẳng đẵn,
Đói nằm trong tre chết cũng đáng. (*)
(Bài hát bán tre)
(Nhật phụ lưỡng can trúc
Mại chi dĩ sung phúc
Môn nội trúc như sơn
Môn ngoại tiền bất hoàn
Bất ngôn nhất hà khổ
Ngôn chi trường tiên, thả tiên nhữ
Y, ta ta!
Qui khứ lai hề, lệ bàng đà
Tòng kim nhi hậu vật phạt trúc
Cơ ngọa trúc gian tử diệc túc.)
(Mại trúc dao)
Có thể nói, với những dòng thơ “tố cáo quan lại và cường hào đanh thép nhất trong thơ ông và có lẽ cả trong thơ ca thế kỷ XIX, Tùng Thiện vương quả là một nhà thơ hoàng tộc tiến bộ giữa thế kỷ XIX” (Lương An – Miên Thẩm, một nhà thơ hoàng tộc tiến bộ giữa thế kỷ XIX – Tạp chí văn học số 3 - 1981)
Chẳng những thương xót cho những cảnh đời khốn khổ của những người dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng trước nạn tham ô nhũng nhiễu của bọn quan lại, cường hào, Vương còn ngậm ngùi cho những cảnh đời phụ nữ bất hạnh trong xã hội thời ấy. Số phận đầu tiên mà Vương bày tỏ niềm xót thương đó là số phận của những người vợ có chồng phải đi chinh chiến nơi xa. Thông cảm sâu sắc nỗi buồn thương, mong nhớ của người cô phụ, Vương đã nhập thân thay lời người chinh phụ viết lên những dòng sầu thảm :
Từ lúc chàng đi khỏi,
Ngày đêm dáng tổn hao.
Nhớ chàng như lưới nhện,
Động đến ruột liền đau. (*)
(Từ lúc chàng ra đi)
(Tự quân chi xuất hỹ
Nhật dạ tổn dung quang
Tư quân nhược thù võng
Xúc xứ tiện hồi trường )
(Tự quân chi xuất hỹ)
Bằng những lời thơ súc tích, Vương đã nói lên được nỗi niềm thương nhớ cũng như dung nhan hao gầy, tiều tụy của người cô phụ. Trong bài thơ có những từ được tác giả sử dụng rất gợi tả và cũng rất biểu cảm. Từ “tổn” ở câu hai càng làm tăng vẻ tiều tụy của dung nhan người vợ; từ “thù võng” ở câu ba – tơ nhện giăng màn – một hình ảnh ẩn dụ cho tơ lòng của người cô phụ, gợi người đọc liên tưởng đến nỗi nhớ thương vương vấn không nguôi của người chinh phụ một mình một bóng chốn khuê phòng.
Cùng dòng cảm xúc trước nỗi buồn khổ của người cô phụ Vương còn có thêm bài Kim tỉnh oán (Nỗi oán nơi giếng vàng) :
Mỹ nhân soi bóng giếng vàng,
Thấy nơi đáy nước dung nhan phai tàn.
Phòng không chẳng dám về nằm,
Bóng ngô trăng chuyển sầu càng khó vơi. (*)
(Mỹ nhân chiếu kim tỉnh
Tỉnh để hoa nhan lãnh
Không phòng dạ bất qui
Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.)
Với những hình ảnh thơ giàu chất ước lệ của thơ Đường, bài thơ lột tả được nỗi buồn xót của người thiếu phụ phòng không gối chiếc khi mùa thu về, trăng thu lạnh, lá ngô đồng lung lay cùng bóng nguyệt, rụng dần theo gió heo may hiu hắt làm giá buốt trái tim cô đơn mòn mỏi đợi chờ ... Người đẹp soi mình trong bóng nước để rồi nhìn thấy nhan sắc của mình “càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha” (Tản Đà – Thề non nước) bởi vì chồng còn đang phải chinh chiến ở nơi xa ... Bài thơ gợi nhớ đến tâm trạng người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn qua bản dịch tương truyền của Đoàn Thị Điểm :
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như rứt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
Ý tứ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ của Đặng Trần Côn cũng như của Tùng Thiện vương, tất cả đầu toát lên niềm thương cảm sâu xa trước nỗi cô đơn, buồn nhớ của người cô phụ.
Bên cạnh niềm thương xót cho số phận những chinh phụ là nỗi xót thương cho kiếp đời của những cung phi trong chốn thâm cung. Có thể kể ra đây bài cung từ viết về nỗi sầu chiếc bóng của các cung phi ở chốn cung Tần:
Chọn múa mời ca những cửa ai,
Cuốn rèm Tương ngóng đợi xe ngài.
Sâu sâu thượng uyển trưa rồi tối,
Ba sáu xuân xanh hết một đời. (*)
(Bài cung từ nhà Tần)
(Trưng ca tuyển vũ á thùy gia,
Độc quyển Tương liêm vọng đế xa
Thượng uyển thâm thâm triêu phục vãn
Xuân phong tam thập lục niên hoa.)
(Tần cung từ)
Bằng nét bút gợi cảm, trữ tình đầy phong vị Đường thi của thể “cung từ”(1), bài thơ là niềm thương cảm đối với người cung nữ sống trong cung A Phòng trên đất Hàm Dương của vua Tần ngày trước, khắc khoải đợi chờ cho đến khi tuổi xuân đã tàn. Ba mươi sáu mùa xuân qua đi, nàng kiên nhẫn đợi chờ. Biết bao lần cuốn rèm ngóng đợi xe vua tới ban cho ân sủng nhưng hết “trưa rồi tối”, hy vọng đã trở thành tuyệt vọng vì xe của nhà vua vẫn mãi mãi không đoái hoài. Biết bao người đẹp chôn vùi nhan sắc trong chốn tiêu phòng, tắt lửa lòng giữa nửa chừng xuân. Bài thơ nghe như một tiếng thở dài sầu muộn khắc khoải không nguôi.
Thương cho số phận của những cung phi sống héo hắt trong cung cấm từ thời Tần xa xưa phải chăng Vương muốn mượn chuyện cũ để nói lên lòng thương xót của mình đối với các cung phi, mỹ nữ trong cung cấm triều đại đương thời?
Nhìn chung lại, qua thơ “ông hoàng Mười” ta thấy hiện lên một xã hội trong đó người dân phải chịu nhiều khổ đau không chỉ bởi tai trời ách nước; bởi bọn cường hào, ác bá; bởi bọn tham quan, ô lại mà còn bởi nạn tuyển mỹ nữ làm cung phi của chế độ xã hội phong kiến đương thời … Tất cả những sự việc, những tình cảnh, những nỗi niềm ấy đã được nhà thơ hoàng tộc ghi nhận và diễn tả với tất cả lòng ưu ái, cảm thông cùng với nỗi chua xót, bất bình của mình. Từ đó có thể nói Tùng Thiện vương đã thể hiện qua thơ mình khuynh hướng hiện thực rõ nét và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Xét trong hoàn cảnh xã hội quân chủ chuyên chế thời bấy giờ, cá nhân xuất thân là một hoàng tử rồi là một hoàng đệ, một hoàng thân mà đã dành một mảng không nhỏ trong tác phẩm của mình cho những vần thơ giàu tính hiện thực và tính nhân đạo như thế, quả thơ Tùng Thiện vương là một hiện tượng hiếm có trong văn học thời phong kiến rất đáng để cho chúng ta trân trọng và yêu mến.

NPBQ
--------------------------------------------------------------------------------------------
Chú thích
(1 ) Đó là : Nhĩ hinh, Bắc hành, Ngộ ngôn, Hà thượng, Mô Trường, Bạch Bí, Minh Mạng cung từ, Bạch Bí tục, Mãi điền. Khi khắc in Minh Mạng cung từ được gộp chung vào Bạch Bí nên còn tám tập.
(2 ) Trích từ hai vế đối mà người đời đã vinh danh bốn nhân vật nổi tiếng về văn thơ thời ấy : “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”. (Siêu, Quát = Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát nổi tiếng về văn; Tùng, Tuy = Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương nổi tiếng về thơ thời ấy).
(3) Mượn ý từ câu thơ trong bài Thương trạch (Ngôi nhà đáng buồn) của Bạch Cư Dị ở đọan : Chủ nhân thử trung tọa / Thập tải vi đại quan / Trú hữu xú bại nhục / Khố hữu quán hủ tiền (Nhà chủ ngồi trong đó / Mười năm làm đại quan / Thịt thừa trong bếp thối / Tiền chứa ở kho tan).
(*) Bản dịch thơ của tác giả từ nguyên văn chữ Hán của thơ Tùng Thiện Vương.


Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

ÔI ...BIÊN TẬP - TRẦN HUIỀN ÂN

Khoảng 50 năm trước, có lần ông Võ Hồng phàn nàn rằng khi ông tả cảnh nhà quê, trong vườn có một bụi duối, thì “thầy cò” (người sửa bản in) không biết cây duối, sửa lại thành bụi chuối. Sai quá đi chứ, nhưng tạm chấp nhận vì trong vườn có bụi chuối cũng hợp lý, bạn đọc chẳng biết đâu mà chê trách.
Hiện nay, mỗi tác phẩm được in đều qua một hay hai cán bộ biên tập (CBBT) của nhà xuất bản. Điều đáng tiếc là các vị này có quyền hành to lớn, muốn sửa tác phẩm thế nào cũng được, nhưng một số vị thiếu sự hiểu biết sâu rộng, thành ra nhiều khi sửa theo suy nghĩ riêng tư, làm sai lạc hẳn ý nghĩa.
Lấy trường hợp của chính tôi, xin nêu ra mấy điểm cụ thể sau đây:
- Tác phẩm Lễ tục vòng đời: trăm năm trong cõi người ta, NXB Văn Hoá Thông Tin. Tên tác giả là Trần Sĩ Huệ, một chỗ sửa thành Trần Sỹ Huệ, một chỗ khác, chắc thấy chữ Sỹ cũng chưa hay, chưa đẹp, sửa thành Trần Trí Huệ !
- Tác giả trích nhận xét trong sách Đại Nam nhất thống chí về Phú Yên: “Dân tục chất phác...”, CBBT sửa thành “Dân tộc chất phác...”!
- Nha văn hóa, sửa thành nhà văn hóa. CBBT không biết nha là một cơ quan thuộc bộ trong chính quyền miền Nam trước 1975, tưởng là các nhà văn hóa hiện nay.
Tác giả viết: “Suốt thời kỳ Nho học, Phú Yên chưa có vị nào đậu đại khoa”. CBBT sửa lại: “Suốt thời kỳ Nho học Phú Yên chưa có vị nào đậu đại học”! Đại khoa và đại học, nghĩa khác nhau một trời một vực !
Có khi sửa theo cách nói địa phương nào đó, ông thầy = ông thày, dạy học = dậy học, người đọc tưởng đâu ông thầy (đang nằm) ngồi dậy học... Và nhiều chỗ rất phi lý nữa.
- Tác phẩm Đất Phú Trời Yên, NXB Lao Động.Tác giả viết: “chuyện dân gian, dan ca, cà kê dê ngỗng với nhau”. CBBT không hiểu trong ngôn ngữ bình dân dan ca có nghĩa là chuyện dông dài, không đầu không đuôi, hết chuyện này đến chuyện khác, sửa thành dân ca!
- Tác giả trích một bài thuật lại trận bão năm Giáp Tý 23.10.1924, trong đó dùng Pháp văn “23 Octobre 1924”, CBBT cho rằng viết sai Anh văn, sửa lại “23 October 1924”. Như vậy không hợp lý vì thời ấy dùng Pháp văn, chưa dùng Anh văn.
- Tác giả viết về “tiếng chim bồ chao ồn ào đối đáp, gọi là chim đánh”, không biết CBBT căn cứ vào đâu sửa lại: Chim bồ chao hay còn gọi là chim đính”. Có nơi nào gọi chim bồ chao là chim đính chăng ?
- Những địa danh, CBBT cũng tự ý sửa lại. Thuộc Hà Bạc, sửa thành Thuộc Hà Bắc (8 lần); Sông Cầu sửa thành sông Cầu (5 lần).
Xin thưa: Thuộc là đơn vị hành chánh xưa ở miền Trung thời chúa Nguyễn và đầu nhà Nguyễn, ngang với cấp tổng, hà là sông, bạc là bến. Những nơi làng xóm ở ven sông, cửa biển gọi là thuộc Hà Bạc, sao lại bắt nơi nào cũng thuộc Hà Bắc? Tên thị xã (trước đây là huyện) Sông Cầu, là một đơn vị hành chánh thì phải viết hoa cả (Sông Cầu), đâu phải tên con sông Cầu !
Với cách biên tập như thế, người đọc sẽ nghĩ sao về trình độ cơ bản của tác giả ?
Một vài vị CBBT các báo cũng hay sửa ẩu. Như: đan đát sửa là đan lát. Xin thưa: muốn có cái rổ, thúng, nia... người ta dùng nan đan phần chính, phần chung quanh để lận lên gọi là đát, nói chung là đan đát, sao là đan lát? Hồi 1975-1980 có các hợp tác xã đan giỏ xách bằng sợi cói, còn gọi là sợi lác, không phải lát. Câu ca dao Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai..., tế là nước chạy nhanh của ngựa, sửa thành “ngựa tuế Đồng Nai”...
Đúng là sửa đâu sai đó. Sai trầm trọng. Chứ cây duối của ông Võ Hồng biến thành cây chuối thì đâu nhằm nhò gì! Các tác giả gặp phải cảnh này (như tôi) chắc cũng (như tôi) không còn biết nói gì hơn, đành ngửa mặt lên trời mà kêu rằng: Ôi, biên tập!

Trần Huiền Ân
Nguồn: Báo Tuổi Trẻ
(Đăng lại từ Blog CTC)

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

BÙI GIÁNG ,MỘT CHÂN DUNG HUYỀN THOẠI - HIỀN NGUYỄN



Trịnh Công Sơn từng có câu: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em có biết không? Để gió cuốn đi… - “Để gió cuốn đi” hình như là một cái gì ám ảnh và đúng với nhiều thân phận cuộc đời con người mà Bùi Giáng là một trong đó.

Văn học Việt Nam có rất nhiều nhà văn lớn với những tác phẩm giá trị nghệ thuật nhưng điều đó không đồng nghĩa họ đều trở thành huyền thoại trong lòng công chúng. Riêng Bùi Giáng, dù còn nhiều tranh cãi về sự công nhận giá trị nghệ thuật thì ông lại được coi là một huyền thoại. Một định danh không phải ai cũng được gọi cho đến bây giờ, ngoài Bùi thi sĩ và Trịnh Công Sơn.
Đương thời, Bùi Giáng có nhiều bút danh như: Vân Mồng, Trung Niên thi sĩ, Đười ươi thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Báng Giùi… Những bút danh này dường như không nhất quán dưới mỗi tác phẩm, nó tuỳ thuộc vào sự ngẫu hứng của thi sĩ. Có thể vì điều này mà cho đến nay không ai biết chính xác Bùi Giáng có bao nhiêu tác phẩm và vô số dị bản. Có người bảo ông có khoảng 50 đầu sách, nhưng cũng có người khẳng định 70 đầu sách. Tuy nhiên, hiện giờ di cảo của Bùi Giáng chưa được công bố vẫn còn. Số di cảo xuất bản thành sách phải lên đến 10 tập nhưng mỗi năm gia đình nhà thơ chỉ chủ trương xuất bản một tập. Thậm chí, một số tin đồn cho hay, số lượng di cảo còn đầy vali - nhà báo Yên Ba; người sưu tầm tác phẩm của Bùi Giáng cho hay. Ngay cả nhiều người yêu mến và thích thơ Bùi Giáng khi nhìn vào số sách sưu tầm của Yên Ba - dù chưa đầy đủ hết cũng vô cùng ngạc nhiên vì số lượng những tác phẩm đã được in thành sách của Bùi Giáng lại nhiều đến vậy, có những cuốn mà họ chưa bao giờ được nhìn thấy, được biết đến.
Điều đáng ngạc nhiên nữa là chưa khi nào người ta thấy Bùi Giáng sáng tác nhưng lại có số lượng tác phẩm đáng kể đến vậy. Ông vừa làm thơ, vừa dịch tiểu thuyết, tiểu luận, khảo cứu triết học… Ông có thể đọc thơ, làm thơ mình mà không cần giấy bút, hoàn toàn bị động và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Để dẫn chứng cho nhận định trên, Yên Ba kể lại câu chuyện nhà văn Mai Thảo từng bắt cóc Bùi Giáng vào toà soạn của mình với lý do cần một số bài thơ cho số báo tới. Kết quả là Bùi Giáng đã để lại cho toà soạn hơn 20 bài thơ của mình.
Trong cuốn Đười ươi chân kinh của Bùi Giáng vừa được ra mắt gần đây có nhắc đến công việc gạn bỏ, chọn lọc của ban biên tập khi tiếp cận thơ của ông. Thơ Bùi Giáng, theo nhà thơ Trần Ninh Hồ thì “có những câu thơ hay nhất kiếp người, như: “Hỏi tên rằng bể dâu xanh/ Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa/ Ta về rũ áo mù sa/ Trút quần phong nhuỵ cho tà huy bay” (Còn có dị bản khác Hỏi tên rằng bể dâu xanh/ Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa/ Gọi tên? Rằng một hai ba/ Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm). Còn người khác thì cho câu: “Còn hai con mắt khóc người một con” là câu thơ giàu liên tưởng, triết lý. Hay câu: “Em về mấy thế kỷ sau/ Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không/ Ta đi còn giữ đôi dòng/ Lá rơi có dội ở trong sương mù”… Độc giả có thể biết vô số câu thơ như thể được viết ra trong lúc Bùi Giáng ở trạng thái xuất thần, lên đồng từ cõi vô thức, vô thường. Thế nhưng cũng có nhiều câu, nhiều bài lại rất vô thưởng vô phạt, kiểu như: “Mình ơi! tôi gọi bằng Nhà/ Nhà ơi! tôi gọi mình là nhà tôi”… Nếu gạt bỏ biết bao câu thơ xuất thần của Bùi Giáng, quả thật khi đọc những câu thơ này khó ai nghĩ đó là thơ chứ chưa nói là thơ của một thi sĩ huyền thoại.

Khi nào có thể lý giải được huyền thoại Bùi Giáng
Trong buổi toạ đàm thơ Bùi Giáng, giảng viên Trần Ngọc Hiếu của Đại học Sư phạm Hà Nội có đặt ra một câu hỏi: Cơ chế nào để Bùi Giáng trở thành huyền thoại? Câu hỏi này cho đến nay thực sự không mới nhưng để đi tìm lời giải thì không biết đến bao giờ. Bởi vì toàn bộ cuộc đời của Bùi Giáng cũng là một tác phẩm lớn với nhiều giá trị kèm theo những tranh cãi, hư thực đan xen. Ranh giới của tất cả những giá trị đó chưa bao giờ phân định. Mỗi khi một giả thiết, một nhận định được đưa ra thì ngay lập tức nó vấp phải sự phản biện, sự chứng minh ngược lại hoặc bị phủ nhận trong cái gọi là “dị bản”, “đồn đại”.
Nhà thơ Trần Ninh Hồ cắt nghĩa một phần “cái điên” trong con người Bùi Giáng, rằng đó là” Điên nửa thực nửa tỉnh và có cái thảng thốt của đời người”.
Còn nhà văn Phạm Toàn cắt nghĩa con người Bùi Giáng trên phương diện nghệ thuật: “Nghệ thuật là làm ra cái đẹp chứ không phải bình luận cái đẹp”.
Còn hoạ sĩ Ba Tỉnh - người đã từng gặp Bùi Giáng để vẽ chân dung ông theo trí nhớ, thì Bùi Giáng có cái điên khác thường “Cảm giác như Đôngkisốt của Việt Nam. Ông mặc theo ý ông, rất kiểu cách chứ không phải một người điên. Ông điên kì lạ, điên của người tài năng chứ không phải điên thông thường”.
Sự bất thường trong cái vô thường của một con người đã khiến Bùi Giáng trở thành một con người “nhoà” trong tất cả những gì lẽ ra phải cụ thể nhất ở một sinh thể. Ai cũng muốn góp bình luận, góp những gì mắt thấy tai nghe (bị/ được thêm bớt) để cố công tạo nên một chỉnh thể rõ ràng, nhưng càng làm càng thất bại và càng đi xa với hình mẫu chủ đích ban đầu. Vì thế, xung quanh cuộc đời ông, sự nghiệp ông còn rất nhiều câu chuyện thật giả lẫn lộn được kể và đánh vào sự tò mò của độc giả. Đó là lý do vì sao ông trở thành huyền thoại và chưa biết đến bao giờ câu chuyện huyền thoại này chấm dứt.
Cũng giống như Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng sẽ mãi là một hiện tượng mà chúng ta cứ mải mê đi tìm ngọn nguồn, biết là mất công, vô ích nhưng cứ dấn thân.



Hiền Nguyễn


(TOQUOC ONLINE)

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

TRƯỚC SAU ĐỀU CỦA RIÊNG MÌNH - NGUYỄN LƯƠNG VỴ




Thi sĩ Võ Chân Cửu tự bạch, anh mần thơ từ khi còn tuổi thiếu niên. Mần thơ từ rất sớm, nhưng sức thơ lại vượt xa cái tuổi của mình, mà thơ lại hay, thơ thứ thiệt nữa thì thật là hiếm và quý.
Võ Chân Cửu in tập thơ đầu tay,Tinh Sương, năm 1972, cách nay gần 40 năm, lúc ấy, thi sĩ cũng vừa tròn 20 tuổi. Gần 40 năm sau, ngồi đọc lại Tinh Sương, tôi vẫn còn niềm rung cảm, xúc động mạnh như thuở nào.

Tinh Sương đúng như tên gọi, một giòng thơ lung linh, trong veo trong vắt, nhất khí từ bài đầu đến bài cuối. Âm vang có một chút gì đó hiu hắt, lành lạnh, trầm trầm. Sắc màu có một chút gì đó vừa ảo diệu , vừa mênh mông. Chữ trong mạch thơ của thi sĩ hình như cố ghìm lại những tiếng nấc thảng thốt của buổi đầu đời, khi bắt đầu cảm nhận được cái cô liêu, côi cút, bơ vơ của kiếp người.
Tinh Sương, tuy với số lượng thơ chắt lọc, 25 bài (phần lớn là thơ bốn chữ [6 bài,] thơ năm chữ [12 bài;] còn lại là thơ sáu chữ [4 bài,] thơ bảy chữ [1 bài,] thơ song thất lục bát [1 bài] và một tiểu trường ca Quẩy Đá Qua Đồng, viết theo lối bài hành cổ phong với phần mở đầu và phần khép lại bằng thơ lục bát,) nhưng về phần thi pháp, Võ Chân Cửu đã chứng tỏ được một bản lĩnh vững vàng, tầm cỡ ngay từ thời tuổi trẻ

Nàng đội nón cời
Đi về phương bắc
Thẳng đứng mặt trời
Soi không thấy mặt
(Vô Tình)

Nhịp hai, bốn chữ, bốn câu. Hình ảnh, tứ thơ rất lạ. Nàng nào vậy? Nàng Thơ? Nón cời? Soi không thấy mặt. Bốn câu mở đầu của tập thơ, tỉnh rụi, lạnh lùng quá đỗi. Câu cuối hun hút bóng hình, buông xuống một âm trắc dứt điểm nghèn nghẹn, thảng thốt. Vô Tình ư? Không hẳn. Nàng Thơ thách thức thi sĩ đó thôi! Thi sĩ lập tức hồi đáp:

Trăm năm bá láp
Nghìn năm điêu tàn
Đi về Tịch Hạp
Soi bóng trăng ngàn
(Soi Bóng)

Vỡ lẽ ra, Soi Bóng trong cõi Tịch Hạp thì sẽ thấy rõ mặt nhau.
Bóng trăng ngàn chỉ là biểu tượng thôi. Tâm thức của thi sĩ tự soi lấy cái bóng “kép” của mình. Cõi Tịch Hạp là mái nhà xưa, cái chốn ban sơ của âm và sắc, cái chốn hỗn mang thiên địa mịt mù. Khởi kỳ thủy là Lời hay là Âm? Hỡi Nàng Thơ huyền ảo kia! Vậy nên:

Sớm về phía mây tụ
Chiều tới nơi mây tan
Phải nơi nầy chốn cũ
Trên mặt đất còn hoang
Trời rộng đau gió hú
Ôi hư không tràn lan
(Một Ngày Bộ Hành)

Thi sĩ cứ bước đi, bước đi. Nhịp một nhịp hai nhịp ba trùng trùng duyên khởi. Cái bóng của thiền sư Không Lộ ở đâu đây? Trường khiếu nhất thanh hàn Thái Hư – Hú dài một tiếng lạnh cả cõi Hư Không. Thi sĩ chắc là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cái chốn cũ là cái chốn nào trong tiền kiếp phôi pha? Câu hỏi vu vơ hoang địa, tịch mịch vọng lời đáp. Đúng rồi:

Tuổi mười tám đôi mươi đắm mình dạo chơi trong cõi tịch mịch của buổi tà huy, nhìn thấy và lắng nghe, không kịp gọi thì bóng tà bay cái vụt. Nhạy cảm trong từng cái thấy cái nghe, hạt bụi cũng có linh hồn, cũng có dáng dấp sinh linh ngoa ngoe quẫy đạp. Là ta đấy ư? Là em đấy ư? Lời chưa kịp gọi, cái vụt của chớp nháy không gian thời gian kia đã chia biệt rồi!

Theo mây đi một buổi
Trời đất nhẹ phiêu phiêu
Va đầu tưởng đụng núi
Chỉ đụng bóng sương chiều
Một mặt trời lầm lũi
Trên trần gian tiêu điều.

Tứ thơ thản nhiên, lạ lẫm, pha chút ngông cuồng của tuổi trẻ. Không hề gì! Cô liêu và cô độc quá thôi! Vô núi là vô cái cõi tịch mịch sấm rền. Thi sĩ chỉ biết:

Vô núi nghe núi rền
Tự hỏi rồi tự đáp
Về ù tai cả đêm
Canh tà chỉ buồn ngáp.
(Thâu Đêm)

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt hình như có tiếng đồng vọng của Trúc Lâm Yên Tử? Trong sấm sét rền vang của tịch mịch, thi sĩ hốt nhiên vỡ lẽ ra,tự hỏi rồi tự đáp
Tự đáp rồi thì ù tai cả đêm. Buồn ngáp là để hóa giải cái hay là niêm hoa vi tiếu sau cái buồn ngáp ấy? Bài thơ hay là bài kệ? Chẳng biết nữa. Thi sĩ hay thiền sư? Lại càng chẳng biết luôn. Chỉ biết rằng: Thi sĩ đã sớm chạm vào cõi vô ngôn kỳ bí nhất của kiếp người. Vô ngôn đâu hẵn là không lời! Xin mời bạn đọc chậm rãi và tưởng tượng thêm tiếng mõ cầm canh hòa điệu

Chùa cổ bên sông
Mưa lồng chính điện
Mưa dìu mái cong
Về thăm năm cũ
Rã chút hương tàn
Trên bia mộ hoang
Trên cành đa phế
Hồn đựng bình vôi
Và trong ngẫu tượng
Than đất than đá
Than cỏ than cây
Cùng con dế nhỏ
Gáy suốt đêm dài
Gáy suốt mười năm
Chết vùi dưới rễ
Còn mãi kêu em
Bên kia bờ sậy
Sông là nắng mai
Ủ lòng em nhạt
Gáy suốt mười năm
Nở hoa bát ngát
Em đeo trong tim
Em cài lên ngực
Một mai hết rồi
Em biết còn ai
Gọi vầng trăng đục
Chở tình lên mây
Mây tan mây hợp
Mây trắng đầy trời
Tan nát nửa đêm
Xoáy theo tiếng mõ
Vọng từ muôn xưa
Hiện con bướm nhỏ
Đậu bâu áo phai
Ru trong nắng tịnh
Nước mắt như mưa
Cuốn hai bờ mắt
Mắt khép một bờ
Em thấy trăm năm
Một tiếng chuông đồng
Em thấy nghìn năm
Một câu chiêu niệm
Em nhìn vạn kỷ
Một vùng như sương
Chùa cổ bên sông
Mưa mưa không cùng
Mưa mưa kỳ cựu
Những ngày nước dâng
Mưa êm nhập định
Từng mảnh rêu phong
Anh quên kinh kệ
Ra chảy với sông
Tìm em vạn ngã
Bạc áo nâu sồng
Kiệt trên đời cũ
Ơi em vô hình
Một đời bay vụt
Hỏi em bóng dáng
Sông nước chập chùng
Nước xô thiên địa
Chùa cổ bên sông
(Chùa Cổ Bên Sông)

Theo tôi, đây là bài thơ xuất thần nhập thánh nhất trong Tinh Sương. Thi sĩ viết như nhập đồng, chảy trôi một mạch như khúc đồng dao, nhịp theo tiếng mõ thánh thót như những giọt sương trời, vang vang, lắng lắng. Chùa cổ, sông, là biểu tượng đầy ẩn dụ, động và tĩnh, xa và gần, mộng và thực, dìu dặt âm vang, quyện vào nhau trong tiết điệu lung linh, chập chùng, trùng điệp. Bài thơ có thể tụng với nhịp ngân nga trầm bổng, có thể hát lên một mình trong đêm thanh vắng. Tụng hay hát, nhả giọng khoan thai từng chữ, câu chuyện kể sẽ ánh lên một âm vang và sắc màu vừa thực vừa mộng. Tụng hay hát, sẽ bật lên tiếng ca xang bi mẫn giữa bóng đời dâu bể trầm luân. Em là ai? Là duyên nghiệp trùng trùng, là vết thương tâm bạc áo nâu sồng/kiệt trên đời cũ của kiếp người ảo hóa mong manh. Bài thơ thấm đẫm mùi Đạo mà ngan ngát hương Đời nên không có chỗ dừng. Càng tụng, càng hát, càng lung linh màu Sông nước chập chùng/Nước xô thiên địa/Chùa cổ bên sông…

Tinh Sương còn có bài thơ 5 chữ, Quê Nhà, 148 câu, là bài thơ khá dài hơi, ý tứ hàm súc, nội lực thâm trầm. Tôi nghĩ, thi sĩ đã cảm ứng và phát tiết, khai mở và sáng tạo thêm mạch ngầm sâu thẳm mà 2 câu thơ của Huy Cận chưa nói hết:Một chiếc linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu. Phải chăng, đó cũng là thiện duyên đối với những tâm hồn đồng điệu. Đồng điệu, nhưng đường bay trong cõi văn chương, mỗi người mỗi ngả riêng tây.
Quê nhà, một nơi chốn nào đó trên mặt đất đìu hiu, vòng quay sinh tử dập dìu, đến rồi đi, đi rồi đến, mong manh phận người bụi bặm, hẩm hiu trăng tàn nguyệt tận giọng nói lời chào, Mây bay từ thiên cổ/Cùng nhau trời đất tan/Ta một linh hồn nhỏ/Vơ vẩn miền Đại Hoang.

Quẩy Đá Qua Đồng, gồm 120 câu, là một tiểu trường ca độc đáo. Khổ đầu khai mở bằng 10 câu lục bát để vào chuyện. Tiếp theo, 102 câu phá thể theo kiểu một bài hành cổ phong. Cuối cùng, khép lại bằng 8 câu lục bát. Như một câu chuyện kể, một huyền thoại nơi một vùng địa linh nào đó (không biết có phải là nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ, hư cấu thêm, muốn ký thác tâm sự chăng?) Trong bài thơ, đá là một vật linh, cất lên tiếng nói, tiếng ngâm ngợi, ca xang giữa thinh không. Giọng đá u trầm

Soi cái hình ta, hề
Minh mông
Soi suốt thiên thu, hề
Thinh không
Trứng con thần ưng
Phơi trên non chóp
Ta nằm muôn năm
Sao chưa thay lốt
Ta uống tinh sương hề bao nhiêu hớp
Thốt với bao la hề khuya hay trưa
Con thần ưng ơi con thần ưng
Con trăn tinh ơi con trăn tinh
Ngươi chơi cùng ta hề
Sao ta chưa bay lên cao hề
Trời xanh xưa hẹn ta hề
Trời xanh nay lừa ta hề
Đất trích chiêm bao
Cho ta hát ngao hề

Đá tâm tình với thần ưng và trăn tinh. Đá hát cho thần ưng vỗ cánh. Đá múa cho trăn tinh phun ngọc. Rồi khi cao hứng, đá bèn

Bày ra một cõi chưa từng có hề
Trời xanh ghen hề đất ghen hề

Thần ưng và trăn tinh đã bỏ đi. Đá tiếp tục độc thoại, tra vấn về bản thân, về mặt đất, trăng sao…Đá hát một mình, đá chơi một mình, đá nghe một mình, đá mộng một mình giữa bốn bề hư không lặng ngắt nhưng vẫn còn nặng lòng với nhân gian:

Trời xanh Nam Hải
Khói vi vu
Soi động hư vô
Mờ nhạt một bầu
Lặng ngắt mênh mông
Câu ca câu hát
Nghe ta xoay vòng
Thiên địa về đâu

Đá lắng tiếng ca, bài thơ khép lại

Nằm nghe đá hát vô minh
Thơ thay con mắt ngó rình hóa công
Bóng ai quảy đá qua đồng
Sầu xưa uất nặng giữa lòng nhân gian

Giọng nói, giọng hát u trầm của đá. Giọng của quỉ thi Lý Hạ đấy chăng? Tôi cũng chẳng biết nữa. Chỉ biết đây là một bài thơ kỳ dị, lạ lùng, ý thơ ảo diệu mùi vị Đạo học Đông phương huyền hoặc trong cái ý huyền chi hựu huyền. Thi sĩ ngơ ngác trước thềm sương của vũ trụ, rồi rùng mình hóa thân vào đá, đá hóa thân thành huyết lệ trùng trùng trong tiếng ca xang giữa bóng đời dâu bể. Bài thơ hóa thành mây trắng, bay đi về chốn tuyệt mù. Đọc bài thơ, nghe rờn rợn sống lưng, nghe óc tuôn trào nỗi nhớ không lời, không tên, không tuổi
Tinh Sương, cũng là tinh huyết của thi sĩ

Đại Mộng là tiếng ngân dài của Tinh Sương. Tiếp tục tra vấn, hồi tưởng bằng những ẩn dụ tượng trưng với những bài thất ngôn tứ tuyệt, lục bát bốn câu trầm tĩnh, đĩnh đạt hơn, sâu lắng hơn. Đặc biệt, một bài thơ khá dài, 58 câu, với 3 khổ điệp khúc dặt dìu trong một buổi Sáng Thinh Không

Một con chó con, một vừng trăng sáng
Hai cõi trời im, một vùng biển cạn
Một con đường đèo sương đục lô nhô
Một chiếc hồn ma quẩn quanh vạn cổ


Một con chó con, một vừng trăng sáng
Hai cõi trời im, một vùng biển cạn
Một chiếc hồn đơn mấy bè mây nổi
Hai con ngựa trắng một chiếc xe tang

Một con chó con, một vừng trăng sáng
Hai con ngựa trắng, một chiếc xe tang
Đất lành gió phủ mây trong mát
Vạn cổ nghe chăng, dưới gót nàng

(Sáng Thinh Không

Nàng,” biểu tượng cho cái Đẹp hiu hắt của trần gian? Hay bóng ma thiên cổ thoáng ẩn thoáng hiện , mệnh hệ của kiếp người hư ảo mù tăm? Vết thương tâm đầu đời, vận vào hồn cốt chữ nghĩa, thấm vào mệnh của thi sĩ?

…Sáng thinh không, sáng dưới chân nàng
Trong lòng vạn đại đã tan hoang
U minh rờn rợn lên vai tóc
Bóng tà vạn thuở đã bay ngang
Sáng thinh không, sáng lặng ngát hương
Êm ả trần gian chợ phố phường
Một bàn tay vẫy trên non tuyết
Một tiếng cười vang cả bốn phương

Tôi đọc và nghe khí lạnh toát ra trong từng con chữ! Bài thơ đã vượt lên cái sự hay bình thường. Bài thơ đã đạt đến cái đỉnh lặng và lạnh của khắp cõi nhân gian. Thi ca đã chết trong thời đại cơ khí gầm gào? Tôi cũng chẳng biết nữa! Nhưng khi được đọc những giòng thơ như trên, tận đáy lòng tôi đang dậy lên một niềm bi mẫn khôn cùng.
Cái Đẹp sẽ cứu vãn thế giới. Ai đã nói như thế? Tôi quên mất. Nhưng tôi tin, tin lắm, cho dẫu là niềm tin hình như không có thật giữa thời buổi nhiễu nhương nầy

Ngả Tư Vầng Trăng và những bài thơ khác trong tuyển tập, hương Đời nhiều hơn, thấm đẫm hơn, nhưng chẳng hiểu vì sao, tôi ít xúc động hơn so với Tinh Sương và Đại Mộng, nhất là Tinh Sương
Ta bước lên đường kêu gọi mãi/Nhớ người bạn cũ thuở anh niên
(Xuân Diệu) Ôi cái thuở anh niên đẹp ngất. Ôi cái thuở anh niên một lần rồi thôi, không có chốn quay về. Góc biển xưa, khung trời cũ hanh hao. Qui Nhơn, Qui Nhơn ngập tràn nắng gió, mộng mị của một thời

Trước Sau như Một. Một cái mối Nhất Dĩ Quán của một đời thơ. Thi sĩ, kẻ thọ nhận điêu linh, mỗi người mỗi kiểu, cô liêu cô độc ngút ngàn. Có còn chăng là tiếng đồng vọng của cố nhân bên trời lận đận. Những trận gió bay đi mịt mờ tuổi dại, nhưng vẫn còn đây những giọt nắng của buổi sơ đầu hạnh ngộ.Quỷ ma đưa mãi lời thiên cổ/ Hiu hắt nghìn thu lạnh khí đồng…Tôi chẳng bao giờ dám quên. Vô cùng biết ơn thi sĩ.

Calif, cuối đông 2011
NLV