Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

SAO KHUYA - VÕ CHÂN CỬU

1
Đâu ai còn nhớ thương ai
Câu ca ngày ấy thương hoài ngàn năm
Sao khuya lấm áo em nằm
Cho ta tìm ánh trăng rằm trên cao.
2
Lối xưa anh biết chốn nào
Cành dương xỉ vẫy tay chào hư không
Con bìm bịp cứ bay cong
Suối ơi uốn khúc ngô đồng gió lay.
3
Chiều vừa chín giữa ngọn cây
Người không đến, nửa bóng mây qua thềm
Cho nhau một giọt mưa tìm
Bờ môi em. Vẫn cánh chim lưng trời
4
Ai tìm bắt  bóng mây vơi
Cửa răng gió lạnh những lời nhớ, quên
Ai tìm ai giữa vô biên
Bàn tay nắm bóng. Chiều nghiêng xuống rồi.

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

TRẢ LẠI VỊ TRÍ XỨNG ĐÁNG CHO NHỮNG TÁC PHẨM GIÁ TRỊ - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Tính từ khi tiểu luận Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ và bài thơ Tình già của Phan Khôi được công bố trên Tập văn mùa xuân, phụ san của Báo Đông Tây Xuân Nhâm Thâm 1932, và trên báo Phụ Nữ tân văn ngày 10-3-1932, phong trào Thơ Mới ra đời đến nay đã tròn 80 năm. Tính từ khi Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm giám đốc tuần báo Phong Hóa vào ngày 22-9-1932, chuẩn bị cho sự ra đời của Tự Lực văn đoàn sau đó[*], 80 năm cũng đã trôi qua. Nhân dịp này, một số cơ quan nghiên cứu và giảng dạy văn học trân trọng kỷ niệm hai sự kiện văn học lớn, có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình hiện đại hóa văn học nước ta. Là sản phẩm của lịch sử và văn hóa Việt Nam, chịu ảnh hưởng bởi những biến động chính trị, xã hội, kinh tế trong tám thập niên vừa qua, hai hiện tượng văn học nói trên đã trải qua những chặng đường gập ghềnh trong sự tiếp nhận, thưởng thức và đánh giá. Trong những hoàn cảnh cực đoan, có lúc Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn đã bị xem là những hiện tượng văn học suy đồi, tiêu cực, thậm chí có hại cho việc giáo dục đạo đức và thẩm mỹ. Đường lối Đổi mới xã hội và văn hóa, văn học khởi xướng từ năm 1986 đã góp phần cứu vớt số phận của hai trào lưu văn học này, “chiêu tuyết” cho nó và từng bước đưa nó trở lại với đời sống. Những thi phẩm công bố trước 1945 của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Đoàn Phú Tứ, Nam Trân, Phạm Hầu, Xuân Tâm, Đinh Hùng… lần lượt được in lại với số lượng lớn. Truyện ngắn, tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu… cũng được tái bản và phát hành rộng rãi, chứ không phải là tài liệu hạn chế trong thư viện chỉ dành cho một số ít nhà nghiên cứu tiếp xúc mà thôi. Một số bài thơ hay của văn học lãng mạn được đưa vào các tuyển tập, được bình giảng trong sách giáo khoa trung học, được chọn làm đề thi tú tài và đại học. Hầu hết các nhà thơ, nhà văn nói trên cùng tác phẩm của họ được khảo sát trong các tiểu luận, luận văn, luận án ở nhà trường đại học. Có thể nói một trong những thành tựu lớn nhất của khoa nghiên cứu, phê bình văn học thời kỳ Đổi mới là việc phân tích, nhận thức lại những hiện tượng văn học quá khứ đã từng bị đánh giá bất công, từ đó đi đến nhận định khách quan và xác lập cho nó vị trí xứng đáng trong văn học sử. Những nhận xét thỏa đáng về các hiện tượng văn học ấy của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trước 1945 và của những nhà nghiên cứu ở miền Nam trước 1975 như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Đặng Tiến, Lê Huy Oanh, Bùi Đức Tịnh… được thừa nhận. Một số nhà nghiên cứu từng nặng lời với Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn trước đây cũng thay đổi cách nhìn. Đặc biệt, từ cuối những năm 80 thế kỷ trước đến nay, nhiều công trình cá nhân và tập thể đã được biên soạn trong tinh thần khoa học, giúp người đọc cảm và hiểu sâu hơn những tác gia, tác phẩm của một giai đoạn văn học phát triển mạnh mẽ vào những năm 1932-1945. Có thể kể ở đây một số cuốn sách tiêu biểu: Thơ Mới – những bước thăng trầm của Lê Đình Kỵ, Mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa… của Vương Trí Nhàn, Về Tự Lực văn đoàn của Nguyễn Trác và Đái Xuân Ninh, Tự Lực văn đoàn – con người và văn chương của Phan Cự Đệ, Tự Lực văn đoàn – trào lưu và tác giả của Hà Minh Đức, Ba đỉnh cao Thơ Mới của Chu Văn Sơn, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca do Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên… Trong các nhà nghiên cứu về Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn, chúng tôi muốn nhắc đến hai tác giả với sự trân trọng về lao động công phu, kiên trì và hiệu quả. Đó là Hà Minh Đức, giáo sư đầu ngành văn học, với một loạt công trình biên khảo, sưu tầm, ghi chép về các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ trong bộ sách được lần lượt xuất bản khoảng năm năm gần đây. Thuộc thế hệ trẻ hơn, Vu Gia chuyên tâm nghiên cứu về những tác gia thành viên của Tự Lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thế Lữ. Bộ sách của ông cuốn nào cũng dày từ ba trăm trang đến gần một ngàn trang, đầy ắp tư liệu mới làm cơ sở cho những nhận định bổ sung vào những khoảng trống văn học sử. Những công trình nghiên cứu đa dạng và đa diện về phong trào Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn cho thấy đây là những hiện tượng “một đi không trở lại” trong lịch sử văn học dân tộc, có giá trị đích thực và sức sống dài lâu, còn có thể được tiếp tục khám phá. Bằng chứng là dưới ánh sáng của thi pháp học, phong cách học, lý thuyết tiếp nhận, văn bản Thơ Mới và văn xuôi Tự Lực văn đoàn bộc lộ vẻ đẹp và sự phong phú của nó, đồng thời cho thấy tiếng vang của nó còn ngân xa trong lòng các thế hệ văn thi sĩ và độc giả đến sau. Tất nhiên, mọi hiện tượng văn học đều có những giới hạn lịch sử của nó. Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn cũng không là ngoại lệ. Kỷ niệm hai sự kiện văn học này không phải là dịp để chúng ta tôn vinh những khuôn mẫu không hề bị vượt qua mà quan trọng hơn là rút ra những bài học cho những cách tân hôm nay. Thời đại mới, con người mới luôn luôn cần những tiếng nói nghệ thuật mới. Trân quý những tiếng nói nghệ thuật cũ không có nghĩa là mãi mãi nằm trong bóng râm và vùng từ trường của nó. Trên thực tế, văn học ở những địa bàn khác nhau của đất nước, từ cuối những năm 50 thế kỷ trước đến nay, đã có những bứt phá và đột phá mà có lẽ lúc đương thời những Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu…, dù đầy tài năng, cũng chưa thể hình dung được.  

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG 
 [*] Nguyễn Tường Tam chính thức được ghi tên Directeur (Giám đốc) trên trang bìa báo Phong hóa số 14, ra ngày 22-9-1932. Đến số 87, ra ngày 02-3-1934, Phong hóa mới công bố Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn.

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

HẠT LỆ NÀO CŨNG MẶN NHƯ NHAU - HOÀNG LỘC

cũng bởi chiều nay mây xuống thấp 
chi chắc ngày mai em vui hơn tôi 
cuối sông mờ cơn gió tạt 
vừa nghe ra mưa nổi thượng nguồn 

ở đó có thời em rất lạ 
lá trên vai và nắng trên môi
 những ngày thu của rừng núi cũ 
của thú gầy em hẹn với tôi

 ở đó, rồi xa nhau, cũng vội
 (đời tôi em đã bỏ không về)
 nhiều khi tôi nhớ tôi, buồn bã 
đi bao năm mà lòng vẫn quê 

nhiều khi tôi nhớ em nhiều lắm
 tình sau chẳng mấy khác tình đầu
 trời nỡ sinh hai người lận đận
 hạt lệ nào cũng mặn như nhau
 9-2012

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

TIN BUỒN

ĐƯỢC TIN
NHÀ THƠ NHÀ BÁO HÀ THÚC QUYẾT 
VỪA QUA ĐỜI TẠI HUẾ
HƯỞNG THỌ 68 TUỔI
XIN CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN 
CẦU NGUYỆN HƯƠNG HỒN BẠN SỚM VỀ CÕI PHẬT 

 viêm tịnh - nguyễn miên thảo - cao huy khanh - từ hoài tấn - phạm tấn hầu
 thái nguyên hạnh - tân dân - nguyễn đính - nguyên quân - hồ đăng thanh ngọc
lê ngọc thuận -  đoàn phạm túy linh - nguyễn phố - văn viết lộc 
phan lệ dung - bùi ngọc long - doanh doanh - lê vĩnh thái và bằng hữu

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

HA NA KIM - LÊ NGỌC THUẬN

HA NA KIM
Bên kia bờ biển rộng
Em có chờ ta không?
Ta rót ngàn ly rượu
Uống ngậm ngùi thủy chung
Chưa biết trời Vinh Giang
Đã nghe mùa nắng ấm
Đôi mắt Kim lặng câm
Theo sóng vỗ thì thầm
Thà làm tên say rượu
Để suốt đời nhớ em
Ta đâu cần giấc mộng
Mặc hiên ngoài mưa rơi
Hãy cho ta uống cạn
Dù cốc đầy hay vơi
Dù tóc vừa chớm bạc
Những sợi buồn cưu mang
Có ngàn ngày chủ nhật
Để đợi chờ mai sau
Ta cũng có hai vai
Mời em về yên nghỉ

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

THÊM BÀI THƠ - VÕ CHÂN CỬU

Chắc ta phải rời xa nơi ấy
Rừng thưa chồi gió lặng cô liêu
Vôi quyện muối theo hình con vắt búng
Nắng hong vai chầm chậm sương chiều

Em cứ ngỡ lòng em như cánh lá
Phất theo mưa nhưng chẳng thể xa cành
Con tu hú suốt một đời khản cổ
Chữ theo vần chưa thấy bóng trăng thanh

Thôi chẳng thể một lần như chẳng thể
Tay dầm sương nhỏ nhẹ như mây
Thôi chẳng thể thêm một bài thơ ấy
Gió chao xa thu ngắt nhịp vơi đầy.

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

QUÁN TÂM - LÊ NGỌC THUẬN

QUÁN TÂM

Cô bé có khuôn mặt buồn quá tải
Nỗi nhọc nhằn hiện rõ trên bàn tay
Cô bé cười ta thấy vài giọt lệ
Nơi bập bùng theo tiếng nhạc rền vang

Ta trong số kẻ lăng loàn mất nết
Rượu say rồi trôi nổi với thị phi
Chút trong sáng cũng tan thành trăm mảnh
Buồn loanh quanh không biết sáng hay chiều

Vui có lẽ cũng mấy phần không thật
Đạo cũng vài phân xảo trá điêu ngoa
Đôi lúc nghĩ mình như con lợn chết
Nhưng lại cười ha hả giữa trần gian

Suy cho cùng thân xác này nửa quỷ
Tham sân si tóa lọa đầu đến chân
Mưa đâu đó trên tóc dài thiếu phụ
Ứơt u mê nỗi nhớ đã ê chề

Tâm có thật hay chỉ là hư huyễn
Tình trăm năm hay một chút chao lòng
Ta kiểm tra thấy mật gan tím ngắt
Ngồi nghêu ngao đâu ma quỷ - thánh thần

Cô bé đã quen rồi son phấn
Cũng như ta chai sạn với phong trần
Thèm chén rượu mơ hồ đừng phân cách
Không chân trời - không không và không không.