Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN MẠN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 4 ) - VÕ CHÂN CỬU



Lá Vú sữa

Có được mảnh vườn, việc đầu tiên của tôi là trồng ngay trước nhà một cây vú sữa. Nó không có hình tháp đẹp như Sầu riêng. Cũng không phải đợi cây có trái để “bóp rồi mới ăn”. Mà bởi hai mặt lá nó mang hai màu khác biệt.
Cà phê Tùng Đà Lạt vẫn cung cách bày biện, tiếp khách như xưa. Chợ Đà Lạt và hội trường Hòa Bình còn giữ nguyên kiến trúc. Hai tối thứ 7 và chủ nhật, khu vực biến thành phố đi bộ. Những cô gái từ sài Gòn lên khoe chân đùi, giày không tấc; đông khuôn mặt các nghệ sĩ, nhà thơ. Nhưng ngoài khuôn cửa kính, tất cả đều khác xưa. Ngày đó các quanh khu vực có khá nhiều nhà sách lớn nhỏ. Những tập thơ dày mỏng, của cả các tập thơ đầu tay của nhiều cây bút mới trình làng đều được các chủ hiệu sách trưng bày trang trọng, mời khách cứ lật xem thử.
Cũ và mới
Năm 1967, thơ của nhóm tác giả “Bộ Lạc Mới” Sài Gòn gồm những Trần Hồng Nhan (Nguyễn Tôn Nhan), Triệu Cung Tinh Trung cũng được các hãng phát hành đưa lên gửi bán tại đây.
Sau những gợi mở của các nhóm chủ trương Sáng Tạo, Văn Nghệ…, các cây bút thuộc thế hệ mới này bắt đầu muốn phá cách. Không nhất thiết phải là thơ tự do, 7 chữ hay lục bát… Mà tất cả đều có thể pha trộn. Thơ kiểu Haiku cũng bắt đầu xuất hiện (để 20 năm sau biến thành thơ “ba câu” ? Có điều lớp tác giả trẻ lúc này tất cả đều viết ra từ cảm xúc, kể cả sự cố tình phá cách. Chứ không phải khổ nhọc tìm từ như các “phu chữ”, các “lực điền tên cánh đồng thơ” mà các “nhà phê bình” đã tôn xưng cho các “thần thơ” hôm nay. Có đọc và tiêm nhiễm chút ít các nhà thơ thuộc trường phái “đa đa”, siêu thực, nhưng người làm thơ Sài Gòn lúc này không đến nỗi phải quá mặc cảm mỗi khi so sánh mình với thơ thế giới !
Thật tội nghiệp cho các nhà “hậu hiện đại” hôm nay, chữ nghĩa cố tình như trò chơi què cụt, để chứng tỏ mình mới, để không ai hiểu mình muốn diễn tả gì. Nhưng họ sẵn sang cãi nhau để giành một “vé” cho một chuyến “trại sáng tác”, hay tuyển tập do Nhà nước cho tiền in. Một người bạn thi sĩ luôn tự hào mình”cách tân” như Nguyễn Đạt cũng không ngại ngùng nhiều lần đưa ra kết luận: Thơ kiểu các tác giả như Võ Chân Cửu sẽ không đủ “trình ca” để đăng trên Web T.V (ở Australia) ! Có cây bút “thời danh” thuộc thế hệ 8 X đã lớn tiếng đòi vứt hết thơ các tác giả thuộc các thế trước vào sọt rác !
Ở Việt Nam người làm thơ thời nào cũng đông. Chủ trương thu “quản lý phí” hiện tại khiến tất cả đều có thể được cấp giấy phép in thơ. Có cây bút đưa lên Web chê trách các tập thơ “làng, xã”. Tôi nói rằng như vậy càng vui, chứ sao ? Điều đáng buồn là sách thơ hôm nay rất ít người mua. Người lướt Web cũng rất chọn lọc , chỉ dừng lại ở một số tác giả. Nhiều người tin rằng người đọc thơ hôm nay có thể biết con ruồi bay ngang là ruồi đực hay cái ! Thế hệ 10 năm trước `75 đã có cách nói khác biệt, như “tôi làm thơ vì không biết làm gì khác” ! Thật ra là: “trời đã sinh, người làm thơ thì cứ làm thơ”. Biết làm sao hơn !
“Văn” và “người”
Những trang đầu tay thường ló ra chiều hướng suốt hành trình bút pháp. Phong cách mỗi ngòi bút từ đó hình thành. Các cây bút bản lãnh thường không lệ thuộc lắm vào thể loại. Người bạn lâu ngày là Nguyễn Thanh Châu từ Mỹ về cũng đồng ý thế. Như hai mặt của chiếc lá vú sữa, một xanh lục, một già nâu. Như vậy bạn đọc nhiều lay động với những thơ tình ngọt ngào của Nguyên Sa sẽ không phản cảm khi ông sau này thốt lên những câu như:
Bốn mươi, con vạc ăn sương
Có giường nệm trắng, có em cởi truồng…
(Nhớ Tú Xương)
Hiểu vậy thì người đọc vẫn thấy Thanh Tâm Tuyền là Thanh Tâm Tuyền trong sự ràng buộc niêm luật của thể thơ tứ tuyệt, cổ phong hoặc lục bát mà ông làm khá nhiều trong giai đoạn trong tù sau 1975. Như:
…Vắng trong tiếng gió bấc
Suối chảy siết bồi hồi
Luồn trong nỗi giá buốt
Thoáng rung rợn xa xôi
(Đêm Đông ở K2 Tân Lập)
Hoặc:
Cúi trông cố lý mây vô xứ
Ngâu trắng u mông táp mạn thuyền
Ngút ngọn triều dâng vách sụt lở
Bọt xóa thiên thanh dấp sóng quên
(Vượt biên)
Lên Đà Lạt, Nguyễn Thanh Châu, người say mê sưu tập, tuyển chọn những bài thơ cho các tuyển tập Thơ Miền Nam in ở nước ngoài cũng thành thật nói với các bạn ngồi thơ mới quen : Ngay cả ở Mỹ, thơ in ra cũng rất khó bán. Đa phần là cho. Tôi kể thêm chuyện: ở quán 81 Sài Gòn (Hội văn nghệ sĩ), từ lâu đã có thông lệ: ai muốn đọc thơ, thường phải mua nộp 5 chai để trả tiền “tra tấn” lỗ tai những người trong bàn. Vậy nhưng thơ vẫn cứ ào ào tuôn như bia. Nhưng lắm nhà thơ vẫn rắp ranh tính toán: Làm thơ sao kiếm được đĩa mồi !
Giải thích cho ra lẽ điều này thật khó. Giỏi làm thơ không còn là một lợi thế để thăng tiến trên đường hoạn lộ, khoa cử. Nhưng trong cuộc đời thực chất nhiều nhà thơ vẫn là các “nhà dùng thơ”. Hiền thì nhằm “thi hóa” kinh kệ, chuyện lịch sử; tính toán một chút là xưng tụng, ngợi ca để lấy lòng cấp trên; tệ hại nhất là để cổ vũ cho một chính sách, chủ thuyết. Tôi kể cho anh nghe những chuyện nực cười diễn ra ở Sài Gòn sau ngày hòa bình (khi đó anh đã “được” đi học tập cải tạo). Tại khóa học đầu tiên dành cho văn nghệ sĩ Sài Gòn, có một chiều nhà thơ nổi tiếng với các công trình thi hóa đã rủ tôi về nhà để “tâm sự”. Anh khoe đã viết được đoạn bản trường ca mới, với những câu thơ thi hóa cuộc đời như: “…đến xứ Công Gô, Ngắm nhìn ngọn song nhấp nhô cuối trời”…Và âu lo không biết chế độ mới sẽ có “tin” mình không. Sự khủng hoảng cũng dễ thông cảm. Nhưng việc thần thánh hóa lãnh tụ thì anh làm sao có thể qua mặt các cây bút “lão luyện”.
Có người nói rằng nhà thơ cũng như người đời, đều có 2 mặt. Nhà thơ thì giàu ngôn ngữ, nhiều tưởng tượng, có quyền viết những điều mình không sống. Như có người không hề hút thuốc hay uống rượu, nhưng nhưng nào cũng nói mình say. Có người đối xử tệ bạc với bạn hữu, người than ruột rà nhưng lại ngụy biện đó là thực hành theo công án “phùng Phật sát Phật”. Tốt hơn cả là “đừng nghe những gì nhà thơ nói”…
Những lá vú sữa trên tàn cây đã nói với tôi rằng hai màu lá đối nghịch vì lẽ tự nhiên do trời sinh, nó hợp thành một chiếc lá. Nhưng con người, có thể khi trẻ, khi già. Nhưng chữ nghĩa trước sau cũng sẽ khẳng định : văn là người !

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 3) - VÕ CHÂN CỬU




Trăng tháng Giêng

“Hãy khoác cho thi sĩ một vòng hoa và mời hắn ra khỏi thành phố ” ! Câu nói của triết gia Platon từ khoảng 350 năm trước công nguyên đến nay như vẫn còn thấy đúng. Làm sao cho thi sĩ không còn gặp cảnh này ?
Hàng năm, cứ ăn Tết xong, chúng tôi lại hẹn nhau gặp mặt nhân ngày giỗ Vũ Hữu Định (VHĐ). Từ đêm 16 âm lịch, tháng Giêng 1981, đến nay đã vào năm cách biệt thứ 32.

Vào cuối 1980, tôi ngầm tính toán các điều kiện để vào năm mới cho vợ con về lại Sài Gòn sinh sống. Bỗng nhiên Định cùng một người bạn là Cao Trần từ Đà Nẵng vào có mặt ở Quy Nhơn, mục đích chính là để thăm tôi. Lúc này vừa bị nhà máy điện Đà Nẵng thanh lọc ra khỏi tầng lớp “giai cấp công nhân”, và cũng là lần đầu tiên sau 1975 anh tung cánh giang hồ trở lại.
Nhà thơ “ngoại lệ”
Trong số những người làm thơ nổi bật ở Sài Gòn giai đoạn 1968-1975 thì VHĐ là một ngoại lệ. Cao trào văn nghệ-triết học và tác động chiến tranh lúc này khiến nhiều nhà thơ mới xuất hiện đều có dáng vẻ “nặng phần trình diễn” cả trong ngôn từ thơ ca lẫn cách ăn mặc, xuất hiện ở các quán cà phê. Người thì ‘bất cần đời” qua bộ treilli nhuốm màu bụi đỏ, bông mai xộc xệch; người kính cận dày trệ sống mũi, hoặc choàng bộ áo cà sa, tay ôm những chồng sách nặng. Có người đưa cả những dòng triết học tiếng Pháp, tiếng Đức để thơ mình có dáng vẻ hiện đại. Vũ Hữu Định thì không như vậy. Vừa lên tới căn gác trọ của chúng tôi, anh đã cởi áo sơ mi ra, chiếc bụng tròn trần trùng trục. Trải chiếc, lăn một giấc, ngáy khò xong là anh ngồi dậy dựa tường, lấy giấy kê lên đùi. Dòng thơ tuôn chảy.
Lớn hơn tôi cả 10 tuổi nhưng anh vẫn nhất định cùng tôi gọi nhau là mi, tau, không kiểu cách. Dạo ấy trên căn gác gỗ đường hẻm Nguyễn Huỳnh Đức-Phú Nhuận, tôi ở trọ chung cùng Lê Phiên Vươn, Nam Chữ, Nguyễn Lương Vỵ. Mỗi người một góc, một bàn học, một va-ly riêng. Mỗi người đều tôn trọng nhau, dành sự yên lặng để bạn mình làm việc, học hành. Và ai cũng thích Định vì anh xởi lởi, nói huỵch toẹt mọi vấn đề. Chúng tôi hiếu khách nên nhiều lớp làm văn nghệ ở xa về Sài Gòn lại tìm đến đây ngủ nhờ. Đủ mọi thành phần cùng dịp gặp nhau, như Nguyễn Nguyên Phương từ Trường chiến tranh chính trị Đà Lạt xuống, Nguyễn Mạnh Dạn từ chi khu Trị Tâm Tây Ninh về, hoặc Nguyễn Miên Thảo ngấm ngầm hoạt động “bí mật” khi làm nhật báo…nhưng không ai đụng nhau.
Sự có mặt của Định làm phá tan những định kiến về người làm văn nghệ. Anh học hành không đến nơi đến chốn, từng làm đủ thứ nghề: bán báo, đánh giày, lính đào ngũ, quẳng áo xây dựng nông thôn…nhưng chữ nghĩa viết ra câu nào ra câu đó, thơ thì bài nào cũng tràn đầy cảm xúc, từ tình yêu đến men rượu giang hồ. Cứ dăm ba ngày, kiếm đâu ra được ít tiền thì anh lại bảo: để tao đi chơi một chuyến. Hết Cần Thơ đến Sa Đéc, Long Xuyên. Khi tôi dọn đi ở riêng ở quận 1 rồi quận 3, anh lại theo tôi. Một bữa tối, khi cả 2 đều hết tiền ăn, Định chợt ngĩ ra, bảo tôi: mi chở tau xuống Đêm Màu Hồng, đứng ngoài đường chờ. Kỳ này nhất định lấy được tiền. Té ra anh xăm xăm vào để gặp nhà nhạc sĩ nổi tiếng đã phổ bài “Còn chút gì để nhớ”, nói thật rằng mình mới đào ngũ về. Và anh đã lấy lấy được tiền “tác quyền” lời thơ.
Lăn lóc dòng đời nên Định đã chơi thân với ai thì rất thương bạn, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bạn vui, khỏi âu lo. Đến Quy Nhơn, Định và Cao Trần suốt ngày đi uống rượu, hết dọc bờ biển lại vào quán cóc ven sườn núi. Giới văn nghệ cũ ở Quy Nhơn lúc này ngoài tôi, còn Đặng Tấn Tới ở Thị trấn Bình Định. Riêng một nhà thơ “tranh đấu” gốc Huế và vài cây bút văn xuôi “30-4” thì được chính quyền chiếu cố, đưa vào biên chế sáng tác cùng các nhà thơ “cách mạng chính thống” được trại viết Quân khu 5 phân công về. Biết tính “dĩ hòa” của tôi, sau ngày đầu rong chơi, Định đến gõ cửa Tạp chí Văn nghệ tỉnh gửi ngay bài thơ có xu hướng ca ngợi cảnh đẹp quê hương mà anh đã làm ở Đà Nẵng sau khi được dự các buổi “nâng cao tư tưởng”. Bài thơ tựa đề “Mùa lúa mượt” mở đầu với 2 câu: Sương chiều thổi xuống ruộng non, Gió hấp tấp theo mây luồn qua núi.., nhưng sau đó thì hình ảnh gượng gạo…Rõ ràng là dù sử dụng ngôn từ, gieo vần nhuần nhuyễn nhưng sáng tác không thực sự từ cảm hứng thì sẽ vô hồn. Loại thơ “vô thưởng vô phạt” này chỉ nhằm để khỏi bị bắt bẻ là không hào hứng với cuộc sống mới nên không sáng tác !
Gửi thơ xong, Định và Cao Trần tiếp tục đi ra phố kêu rượu, chờ tôi. Sau 3 ngày rong chơi, tôi tiễn cả hai lên chiếc xe đò có động cơ chạy bằng than về lại Đà Nẵng. Sau những ngày tết Tân Dậu (1981), tôi nhận được bức thư tay có bài thơ “chào năm 41 tuổi” do Định chép gửi từ Đà Nẵng vào. Bài thơ có nội dung “tổng kết đời minh”. Ai ngờ đó là những câu linh cảm. Sau một cuộc rượu say túy lúy cùng các bạn văn nghệ, Định đưa đưa về ngủ ở nhà người em ruột là Lê Quang Tấn ở bên kia cầu sông Hàn (quận 3) cho mát. Nhà Tấn mới xây, anh ra nằm ngoài tấm Veranda cho mát. Nhưng tấm bao lơn này chưa có lan can. Nửa đêm trăng sáng, anh đứng dậy bước ra, như để đi về nhà. Tính Định vẫn vậy, dù nhậu say, ngủ vùi, nhưng khi tỉnh dậy, việc đầu tiên là anh đi về ngay nơi ở thân thuộc nhất. Khi ở Sai Gòn là về nhà trọ có tôi.
Vòng hoa xứng đáng

Mỗi lần em sinh nở
Là anh lại vắng nhà
Mai này em nằm ổ
Anh lại trên đường xa…
“Bài thơ cho vợ” mà Định làm trên “căn gác nhỏ dưới tàn cây vú sữa/Mùa lá khô lật saấp những trang đời”(VCHC) như thế. Tôi viết những dòng này mà lòng ô vàn cảm ơn chị Vân, người vợ hiền hậu của Định. Nếu không có chị chăm lo “Năm đứa con như năm hạt ngọc” thì có lẽ những dòng thơ đắm say của anh không thể tuôn trào: Đời để lại cho anh ngoài ô cửa sỏ/ Một hình mây, bóng núi, tin sông... Năm 2006, nhà phê bình Đặng Tiến đã ghi nhận rất chính xác: “Thơ VHĐ là điển hình cho thơ trữ tình hiện đại. Nó không gai góc thách thức; ngược lại nó kết thêm đằm thắm, quen thuộc. Lay đọc người đọc bằng tình cảm trong sáng và thiết tha, bằng nét tài hoa vô tội”.
Những người phụ nữ tuyệt vời, là vợ các nhà thơ như chị Vân ngoài sự chiều ông chồng làm thơ, còn có sự cảm thông sâu sắc với những thi sĩ là bạn hữu thân thiết của chồng mình. Ông Bùi Bảy, người thay mặt tộc họ Bùi chăm lo phần mộ và giỗ chạp thi sĩ Bùi Giáng vẫn công bố với mọi người: sau năm 1975, tai Saigon có 5 người vợ các nhà thơ bày tỏ sự quý trọng đối với Bùi thi sĩ bằng cách: đưa anh ra tắm dội, tự tay mình giặt gỵa bộ quần áo hôi hám rồi lấy đồ mới cho mặc. Đó là các bà: Đông Phương Huệ, vợ Lê Nhược Thủy, Ngọc Phượng-vợ Nguyễn Lương Vỵ, Phương Bình-vợ Trần Từ Duy (Đông Ki Rét), Hoàng thị Hiệp-vợ anh Phạm Trung Cang (em ruột thi sĩ Phạm Công Thiện) và bà Hữu Hạnh, vợ Võ Chân Cửu. 4 chị đầu tiên đều lần lượt ra định cư ở nước ngoài. Giữa thập kỷ 90, căn nhà của vợ chồng tôi ở sau lưng chùa Già Lam là nơi lui tới hàng ngày của Bùi Thi sĩ. Nơi ở chính của anh cách đó chỉ vài trăm mét. Và thi sĩ Bùi Giáng mỗi khi được ai tặng món tiền nhỏ nào cũng đem tới đưa cho bà vợ VCHC cất để khi cần thì tới lấy một ít đi uống rượu ! Anh còn viết cả mấy dòng trên giấy để nói rõ về sự cấtư4 này !
Một bữa tháng giêng 1995 có một người nói giọng Hà Nội mò vào hẻm 482 Lê Quang Định hỏi tìm nhà tôi. Anh ta gặp ngay người đàn ông áo quần xốc xếch nằm ở ngã ba đường hẻm, đứng lại tò mò. Bà bán tạp hóa-cóc ổi và rượu nhạt ven hè nói: Ông thầy đây là “thầy” của “ông thầy” mà anh muốn tìm, nhà ở trong kia ! Người khách lạ không hiểu gì hết !
Thì ra người đàn ông tên Cảm, ngoài 30 tuổi này được thi sĩ Nguyễn Đức Sơn từ Bảo Lộc giới thiệu xuống. Anh cho biết anh đã từng viết văn, làm thơ, và là chồng của một nhà văn nữ thời danh ở Hà Nội. Hai người kết hôn khi còn là sinh viên, nhưng phải ly dỵ nhau sau khi cô nổi tiếng. Buồn đời, nghe qua tin đồn, anh mò vào Bảo Lộc để học theo cách sống của thi sĩ NĐS: tự trồng trỉa, hái lượm. Sau một năm, anh phải ra đi.
Về Saigon, lại gặp một trời thơ như hình ảnh Bùi Giáng, anh bạn người Hà Nội từng muốn thành nhào7 càng tá hỏa về cách sống của các văn nghệ sĩ Sài gòn. Vợ tôi giải thích rằng vợ chồng tôi kính trọng và quý anh Giáng như ông anh. Mỗi người thích sống kiểu nào mặc kệ họ. Còn như anh, có nhà ở Hà Nội thì nên về Hà Nội, khi nào cưới được cô vợ người Miền Nam thì hãy vào. Vì trên đời, tất cả thơ ca, nghệ thuật đề không thể tồn tại khi không có bàn tay người phụ nữ.
Nghe lời, Cảm tiếp tục tên đường tìm kiếm. Cuối cùng, anh đã gặp được một cô gái trẻ Phú Yên cảm thông. Một bữa nọ, anh quay lại Sàigòn, nói: em hiểu ra rồi !
Vợ chồng tôi liền nhận lời thay mặt họ nhà trai đi cưới vợ cho anh. Vợ tôi trao cho người từng muốn thành thi sĩ một vòng hoa trong ngày cưới.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI (KỲ 2 ) - VÕ CHÂN CỬU

TU THƠ
Những đọt lá trạng nguyên đã bắt đầu nhuốm đỏ; hoa dã quỳ ven giậu vàng rơn…Từ phút giây hiện hữu, các thi sĩ vẫn muốn soi tìm đến ngọn nguồn của tạo vật. Rồi diễn tả nó bằng âm điệu, ngôn ngữ của riêng mình.

Nếu có ai hỏi những giây khắc hiện tại đang làm gì ? Có thể họ sẽ chọn câu trả lờicho xong chuyện : “đang đi…tu”.
Giữa thời đại khủng hoảng các giá trị tinh thần, phía đầu dây bên kia có khi lại vang lên câu: Hay quá, vậy cho tôi theo với !
Hóa ra từ thuở sơ khai, “tu” đã là một nhu cầu thiết thực của mỗi con người từ khi họ bắt đầu ra khỏi bụng mẹ và dần dần giã biệt năm tháng ấu thơ thiên đường. Tu, rõ ràng là một nhu cầu có thực, để mỗi người tìm về với bản thể, hạnh phúc của riêng mình. Như vậy, ai đó nếu muốn theo, liệu có theo nổi không !
Thật đáng tiếc khi người đời và sách vở vẫn chỉ hiểu “tu” như khái niệm gắn liền với tôn giáo. Các từ điển tiếng Việt vẫn cho rằng: tu là tách mình ra khỏi đời sống thường ngày theo giới luật của một tôn giáo ! Do vậy với nhiều người, theo quan niệm tôn sung vật chất , khái niệm “tu” thường đi kèm với mất mát. Nó bắt đầu bằng chữ “t” nên là hậu quả của chuỗi trần tục: tình, tiền, tội, tu, tù, tự tử…Người đi tu coi như từ bỏ những “sung sướng” trên cõi đời ! Thống kê thế giới cho thấy: 2/3 con người sống ở đời đều theo một tôn giáo nào đó. Học thuyết Marxism khi phổ biến cũng đã trở thành một thứ tôn giáo, ngày càng trở nên mù quáng. Kể cả nhiều nhà phê bình văn học thuộc loại hàng đầu ở Việt Nam hôm nay, khi tranh biện cũng liền cất cao khẳng định: chúng ta là những người duy vật biện chứng !
Chối từ giáo điều
Giai đoạn 1968-1975, các thi sĩ Miền Nam vẫn là những người muốn chứng tỏ trước tiên rằng mình không phải là người của các giáo điều ! Bằng cách nào ?
Tu, trước tiên là phải từ bỏ nhục dục xác thịt. Năm 1973 thi sĩ Nguyễn Đức Sơn từ núi rừng Bảo Lộc, đang cạo đầu, mặc áo nhà sư xuống tìm tôi, khoe bản thảo tập “Tịnh Khẩu” sắp giao thấy Thanh Tuệ, NXB An Tiêm in. Trong đó có một bài thơ chỉ hai câu, nhưng là một sự phá cách trong kỷ thuật thơ, cũng là nhát dao đâm vào cõi thần quyền:
Thầy tu
Đ…
Những năm tháng này, sức mạnh xã hội được chợ đời và báo giới tổng kết thược về 4 nhóm người: nhất đĩ, nhì sư, tam cha, tứ tướng ! Trước đó 2 năm, S., một nhà thơ xứ Huế, quen tôi ở Quy Nhơn, lúc này mới “dấn thân” vào Sài Gòn làm thư ký tòa soạn cho một tạp chí văn nghệ chuyên hô hào đấu tranh. S cố tình đem tôi ra mỉa mai: Bây giờ ngày càng xuất hiện nhiều bút danh như…thầy tu !
Lúc này, tôi đã bắt đầu đăng thơ thường xuyên trên các tạp chí. Tôi lại nhà in trên đường Phan Thanh Giản, nơi tạp chí mượn địa chỉ làm tòa soạn, cả hai đi uống cà phê, anh ta cười hề hề: tôi đâu nói cậu ! Về sau tôi mới biết lúc đó y đã vào đảng. Nên chẳng ngạc nhiên khi Trần Tuấn Kiệt, mặc dù lúc này vẫn mê mẩn: Hỡi người con gái bến Tân Quy/ Nàng hát ta nghe tiếng hát gì…nhưng lúc cao hứng vẫn tuyên bố: sẽ đứng ra lập một “Đạo” mới !
Làm “thầy” là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới (đến hôm nay tôi vẫn chưa hề được làm lễ quy y hay rửa tội). Nhưng “tu” vẫn là một nhịp thở khá gần gũi. Bạn tôi có khá nhiều nhà tu, và những lúc tôi cạn túi, các “thầy” vẫn tới nhà, móc tiền ra đưa tôi đi mua đồ ăn mặn.
Một người bạn, anh Hồ Ngạc Ngữ, trong những ngày trốn lính cũng nhiều lần tìm cách độ than dưới những mái chùa. Nhưng Ngữ cũng đã xuất thần làm ra bài thơ “Tâm Ảnh” chỉ có 3 câu, nhưng rất sâu lắng:
Vì sao người đi tu
Bỏ vầng trăng biền biệt
Chết dưới đáy sông thu!
Tôi từng hỏi Ngữ sao lựa chữ “người” mà không phải là “nàng” ? Ngữ nói : “chỉ như vậy là người đọc sẽ cảm được !” Thì ra với cõi đạo cũng như cõi đời, nhà thơ luôn nhận ra cái đẹp gắn với niềm thánh thiện. : Như với Nguyễn Tất Nhiên : Em hiền như Ma Seour….
Không dễ
Người ta có thể lý giải: khi thời cuộc phô nhiều cảnh khốn nạn, con người mất niềm tin, thì họ lại đi tìm sự cứu rỗi ở những niềm linh thiêng. Với nhà thơ thì không hẳn hoàn toàn như thế. Trước tiên họ muốn tìm sự yên bình. Mà cái đẹp thì luôn là vĩnh cửu. Do vậy sau những giờ lây lất, đánh vật với dòng đời, bù khú với bạn bè xong, họ vẫn có xu hướng tìm tới một chốn thiên nhiên yên bình của riêng mình. Họ ít dựa vào một đấng tối cao cứu rỗi. Những năm này, ra Đà Nẵng, tôi vẫn thường hẹn với Vũ Hữu Định ở nhà Đoàn Huy Giao ở vùng biển Sơn Trà phía bên kia cầu sông Hàn, cạnh các Tổ Đình của các tu sĩ Phật giáo ở chùa Hưng Quang đường Minh Mạng mà tôi quen hồi ở Sài Gòn. Căn nhà khuất trong những rừng dương và cồn cát. Định vẫn hay tá túc ở đây. Vợ Giao qua đời đã mấy năm, lúc này anh sống một mình, nuôi con. Chúng tôi uống rượu xong, nằm mỗi người một góc nhà, nghe tiếng song vỗ rì rào ngoài bãi. Chính từ lúc này, Vũ Hữu Định đã biểu lộ suy nghĩ của mình qua những câu thơ về đạo và đời, mà sau này anh đã đưa vào trong “Bài thơ năm 41 tuổi (1981)”, tiên tri tổng kết cuộc đời mình:
…“Thần thánh trăm ông,
Chẳng phục ông nào.
Ông nào cũng tốt,
Ông nào cũng tào lao”.

Có người phân tích vùng đất Nam Trung bộ (từ đèo Hải Vân trở vào) là nơi trực tiếp va chạm giữa các nền văn minh Trung Hoa, Ấn Độ và các nước Nam Đảo (hệ văn minh Phù Nam), lại từng xảy ra các trận chiến ác liệt giữa các bộ tộc, vương triều; núi cao sát biển bày cảnh thiên nhiên kỳ bí và hùng vĩ. Nên con người ngoài xu hướng hiếu học để chiến thắng thiên nhiên và thiên tai, còn nẩy sinh xu thế đạo học nhằm giải quyết sự xung đột giữa con người và nghịch cảnh xã hội. Tính tình họ, vì vậy trở nên cực đoan, tin vào điều gì thì cho rằng đó là chắc nịch, tìn cách đi tới tận cùng khám phá. Từ đó nên trong thơ, có người sa vào tìm sự kỳ bí của âm thanh, có khi quên hẳn ngữ nghĩa. Ngôn ngữ diễn đạt thành vần điệu có khi trở thành một loại bùa chú tôn giáo. Ở Quảng Nam, Đà Nẵng lúc này, xu thế đó biểu lộ rất rõ trong những bài thơ “chơi âm thanh”. Như của Phạm Phú Hải trong âm hưởng Thiền ám ảnh với âm “A,AA,AAA,AAAA…(tựa một bài thơ) Hay với A Khuê trong âm hưởng những điệu Thánh Ca:
Ta là không bóng khô.ng hình nàng ơi
Sao ta đày ải cuộc đời trăm nơi
Ta còn đây hay ta mất hút
Trong nhà lớn bao la đất trời.

Và cả Nguyễn Lương Vỵ cho đến tận bây giờ với sự mải miết đi tìm những “thất huyền âm”, “lục huyền âm”…Có thể đó là một cách “tu” trong âm điệu và ngôn ngữ của các nhà thơ.
Còn tôi, sau những ngày nghêu ngao ở Đà Nẵng, lại ngược vào những mảng vườn xanh êm đềm bên dòng Trà Khúc Quảng Ngãi, với các anh Khắc Minh, Vương Thanh, Trần Thuật Ngữ…Rồi những mặt đầm sóng vỗ của đất Quy Nhơn, Nha Trang…Hơn lúc nào hết, giữa thiên nhiên và con người cần có sự hòa điệu. Và âm điệu của thơ ca phải kết được nhịp mới cho sự hòa điệu này. Nếu chuyên “tu”, chỉ đi vào một cõi, không khéo rơi vào cảnh “tẩu hỏa nhập ma”…Tu…thơ cũng phải cho đúng “pháp”!