Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

HANG ĐỘNG - NGUYỄN NGỌC TƯ

Hang động

Tản văn
Nguyễn Ngọc Tư

Nhìn vào bản vẽ nhà con gái trải ra trên đất, má hỏi vậy rồi cái chỗ dành cho khách ngủ nó nằm ở đâu. Em chưng hửng nói làm gì có. Má cũng chưng hửng hỏi gì kỳ vậy?
Nhà má, cũng là bản sao của nhà ngoại, không rộng rãi nhưng luôn kê thừa ra bộ ván ngựa, bộ vạc cau, hay chiếc giường thước sáu dành cho bà con tới chơi ngủ lại. Quan trọng ngang bằng tủ ly là tủ gối, những bộ mền gối nằm không phải là mới tinh, nhưng sạch sẽ. Thỉnh thoảng, lựa ngày được nắng, má lại mang chúng ra phơi phóng cho thơm, hờ khi họ hàng ghé qua không phải trằn trọc vì mùi ẩm mốc. Ở trong tâm thế đón khách tới chơi bất tử, nên nhà má luôn sạch, trên bàn đặt sẵn bình thủy nước sôi với bộ ấm trà. Cũng giống như những ngôi nhà trong xóm, luôn có bộ vạc nhỏ đặt ở hàng ba, khạp nước mưa nhỏ cho khách bộ hành lỡ buổi. Hàng rào thấp, ơ hờ như chẳng có, trang trí cho vui chớ không phải để ngăn cách. Cửa mở phơi lòng. Ở cái xóm nhỏ vàm sông đó, nồi chè khoai môn và tiếng gà gáy đều chan đến ít nhất năm nóc gia.
Một ngôi nhà luôn phơi bày nết ở của chủ nhân nó.
Làm việc ngay trên bản vẽ, em đưa ra những yêu cầu giống như cho việc xây một cái hang hơn là cái nhà : kín, chắc, không ai ảnh hưởng tới ai. Rào nhà em cao, cắm trên đầu rào những thanh sắt nhọn như ngọn giáo. Nhà bên xóm còn giắt miểng chai bia lên, quắc lạnh trong nắng, nhìn rợn thay cho bọn trộm. Tường dày hai lớp gạch, để mọi tiếng động bên xóm được đẩy ra xa, và cây trồng nghiêng ngã về sân nhà, bảo đảm không cái lá nào rơi lạc qua sân khác. Nhà mình là một cái hang, em nghĩ vậy, khi ngắm nghía tổ ấm sắp thành hình.
Em sẽ cố thủ ở đây, tận hưởng sự riêng tư, không mặc gì trên người hoặc hát vống lên mà chẳng ngượng ngùng chi hết. Cơm khét chỉ mình ta biết, khà khà. Nghe người ta kể từng có thời kỳ cả nước hát chung bài hát, mặc chung sắc áo, và cùng ăn những món như nhau. Họ bị triệt tiêu những ý nghĩ khác lạ, những hành động không giống như bất cứ đám đông nào. “Quên chính mình, quên mình muốn gì đi, rồi thì sống ngon lành”, bí quyết của những người từng trải qua mùa đồng phục, khi em tò mò đi hỏi. Hóa ra chỉ ngắn gọn vậy, khi mô tả một nỗi đau bản thân bị đánh mất.
Nên em trân trọng cái đời sống mà em nghĩ là khá dễ chịu, nhiều lựa chọn này. Thiếu niên thoải mái nhuộm tóc xanh mặc quần đáy thòng đến gối lắc lư điên dại theo một bài nhạc ngoại. Nhà báo thoải mái xăm trái tim đẫm lệ lên tay. Hai thằng con trai thoải mái hôn nhau giữa chỗ đông người. Chương trình thời sự trên đài truyền hình quốc gia thoải mái chen quảng cáo thuốc nam khoa một người khỏe hai người vui, mặt mày thỏa mãn. Và em, được một mình, tùy ý. Nhà chức trách căng thẳng vì người ta tụ tập, hoàn toàn chẳng bận tâm kẻ một mình. Em xài đã đời cái quyền được một mình đó. Dĩ nhiên khi khả năng này thuần thục, sắc sảo thì cũng có nghĩa vài khả năng khác trong em bị cùn lụt đi.
Có lần đọc nửa cuốn Những bức thư đầm ấm của hai ông Nguyễn Hiến Lê và Quách Tấn, em cùng người bạn hào hứng rủ nhau tụi mình sẽ viết thư giống mấy ông già kia. Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt vừa nghe được chiều nay, một cuốn sách hay tìm thấy được trong gánh ve chai, hay rên rỉ về một buồn quéo râu ria, vô cớ đến chiếm đoạt từng tế bào và không đưa ra lời hứa hẹn nào rằng sẽ ra đi sớm. “Quan trọng là hai chục năm sau khi đọc lại, tụi ta sẽ biết mình đã từng điên như thế nào…”, em hăng hái bảo vậy. Lịch sử rốt cuộc đã không được ghi lại, vì vụ tâm tình thương mến thương ấy đã xếp xó chỉ sau chục cái thư điện tử. Sự hào hứng ban đầu rơi xuống vực, xác nằm cạnh những mảnh vụn hào hứng kinh điển khác của thiên hạ như lên sàn chứng khoán, bán hàng đa cấp, lấy chồng Nam Hàn…
Những cái thư trắng sáng và phẳng phiu, không một vết ố nào trên giấy bởi nước mưa, không mang nỗi lo lắng bị thất lạc bởi anh nhân viên bưu điện làm rơi ở dọc đường, không sợ chữ xấu gà bươi vừa đọc vừa đoán… nhưng sự tiện nghi chẳng có giá trị gì, khi người ta không sẵn sàng chia sẻ. Một đứa trẻ tập tành cô độc khi nó bị đứt tay mà không khóc thét lên cho người lớn giúp. Nó tự mút máu, liếm láp vết thương. Nói ra nhiều khi rắc rối thêm, người lớn sẽ hỏi tại sao con chơi dao, má đã dặn rồi, đáng đời… Lớn lên một chút, thành thiếu nữ, những bí mật của một cơ thể biến đổi từng ngày, và những mối tình thầm, những giấc mơ u uẩn… nó càng thích riêng tư hơn. Một mình trở thành thứ gì đó gần như bản chất.
Hoặc là, những vui buồn bây giờ cứ vụn như bụi, khó mà kể thành chữ, thành lời. Nên những ý tưởng xuất hiện trong đầu như đi làm thiện nguyện xây cầu nông thôn hay tổ chức một buổi họp lớp, lên mạng lập nhóm đi Angkor… vừa nhen lên đã tắt ngúm.
Lần kết nối thất bại gần nhất của em là rủ bà bạn vong niên đi bụi. Ngay từ đầu đã xuất hiện một điềm báo xấu : bà bạn đi lạc trong bến xe. Em đi quá nhanh, lên xe ngồi chễm chệ và bạn rớt lại. Lúc chờ xe thì em bỏ rơi bà bằng cuốn Mười hai truyện phiêu dạt của ông Gabrien Gacxia Macket. Xe chạy, em lại tiếp tục để lạc bạn đường bởi thích day mặt ra ngoài ngắm cảnh. Thậm chí em còn làm một bài thơ về cái bóng chính mình bên ngoài tấm kiếng xe, sau đó sực tỉnh, bối rối tìm chuyện gì để nói với bà bạn đang xo ro bên cạnh.
Em áy náy với người bạn đường, nhưng em không sợ cái sự đứt rời không cứu vãn đó. Thật ra thì em từng sợ, từng kêu gào ôi tôi cô đơn quá. Cái tuổi hai mươi người ta hay kêu gào. Nhưng giờ thì em thấy bình thường. Bình thường khi nghĩ rằng được một mình là quà tặng của trời. Bình thường như cái cảm giác cô độc giữa chỗ đông người. Bình thường như ngán sợ nói chuyện điện thoại. Bình thường như việc từ chối đến chơi nhà bạn, “muốn gì thì gặp ngoài quán…”. Và rất bình thường nếu như căn nhà em không có chỗ nào dành cho khách. Chương trình thế giới động vật nói rằng, cọp cũng không thích bọn nào lân la đến hang ổ nó.
Chỉ má thấy không bình thường, và bà gởi ra cho em một bộ mùng mền chiếu gối, nhắn rằng “Bỏ vô tủ áo, hờ khi có khách…”. Lúc nhờ thợ khoan vào vách hang của mình mấy cái khoen nhôm để treo mùng, em thản nhiên nghĩ chẳng bao giờ mình phải dùng tới nó đâu, cứ làm cho có vậy, cho má yên lòng.
Trong cái hang trống trải của mình, thỉnh thoảng em nghĩ về những ngôi nhà khác. Nhà của ông già Bến Tre hiu quạnh. Nhà ông bạn Cần Thơ tĩnh lặng. Nhà ông già An Giang nhàu nhĩ, thiếu sức sống. Nhà của ông già Sài Gòn đẹp mà bồn chồn. Họ đều một mình, và không biết, có cảm thấy ngôi nhà là một cái hang ? Sự cô độc này đều được người ta tự chọn lấy, nhấm nháp như một tách trà đặc. Cho đến khi cái thứ nước chát đắng có hậu ngòn ngọt ấy thay cho máu, chảy trong người, ngập tràn tim. Chắc là lúc đó em vẫn thấy bình thường. Cũng hơi đáng sợ ở chỗ quá sức “bình thường” đó.
Chỉ thấy lạ, là đôi lúc em nghe thèm một tiếng người…

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

NGƯỜI ĐÀN ÔNG GIỮA CHỢ - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Vợ đi công tác dài ngày, gần hai năm tròn anh lo việc chợ búa cho gia đình.

Trước đây, mỗi lần chở vợ đi chợ là một lần được thư giãn: anh tìm quán cà-phê gần cổng, bình thản ngồi đọc báo hay vẩn vơ nhìn kẻ qua người lại. Còn bây giờ thì anh thực sự “tham gia thị trường” rồi!
Từ khi anh đặt chân vào Sài Gòn, ngôi chợ ở cách nhà chỉ mươi phút đi bộ này đã thành thân thuộc với gia đình anh. Anh ăn gạo muối, thịt cá, rau quả của chợ đã gần 40 năm. Nhưng anh chỉ biết mùi chợ từ xa, chỉ nghe mẹ và vợ kể chuyện giá cả lên xuống ở chợ trong bữa ăn gia đình. Với chợ, anh là một người dưng không duyên nợ, thậm chí còn có phần cảnh giác. Thỉnh thoảng vợ nhờ ra chợ mua món hàng nào đó, anh cẩn thận cầm theo nhãn hiệu, ghi giá tiền và chỉ mang vừa đủ số tiền cần mua.
Hồi anh còn nhỏ, mẹ bán hàng tạp hoá ngoài chợ Đồng Cát; gần Tết anh ra chợ trông hàng cho mẹ, không lo nhìn hàng mình mà mãi nhìn người ta mua bán, để mất hàng của mẹ, suýt khóc. Mấy người bạn của mẹ có quầy hàng gần đó, thấy thương, mua bánh cho ăn. Lớn lên xa nhà, mỗi năm về quê, anh đều đi vòng quanh chợ, nhưng không dám bước vào. Cậu anh là thầy giáo ở Hà Nội đã nghỉ hưu, về thăm nhà, một hôm ra chợ Đồng Cát ngồi ghế đẩu ăn một lúc mấy cái bánh xèo nóng hổi đúc ngay tại góc chợ. Gia đình biết chuyện, cậu bị phê bình quá xá. Anh để ý, thấy gần cổng chợ này, buổi chiều cũng có quầy đúc bánh xèo thơm phức; ít lâu nữa về hưu anh cũng sẽ ra đó ngồi ăn như cậu, mặc cho người nhà, đồng nghiệp hay học trò cười chê.
Thú thật, lần đầu tiên cầm tiền đi chợ lo bữa ăn cho gia đình, anh hoang mang quá đỗi. Anh biết mình đang nhận một “sứ mạng” nặng nề liên quan đến sức khoẻ cả nhà. Chao ôi, những người nội trợ bây giờ đích thị là những người bảo vệ sự sống của cả một dân tộc. Biết bao mặt hàng đẹp đẽ bày ra đó tưởng là nguồn dinh dưỡng cho con người mà cũng có thể là nguồn chất độc. Con mắt thường của anh làm sao phân biệt được. Anh bắt đầu “tự bồi dưỡng” kiến thức cho mình bằng cách tìm đọc những bài báo viết về tiêu dùng, về an toàn vệ sinh thực phẩm mà lâu nay anh chẳng thèm ngó ngàng đến. Anh rùng mình khi lên mạng thấy cảnh người ta tái chế chân gà ung thối đem bán cho dân mình.
Nếu có giải thưởng dành cho những người sốt sắng thực hiện chủ trương “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”, có lẽ anh là một trong những khách hàng đầu tiên nhận giải. Có gì đâu, thịt gà thì anh mua gà vườn, trái cây thì mua trái cây miệt đồng bằng, rau quả thì mua rau quả Đà Lạt…Anh tránh xa những món gì có xuất xứ “lạ”. Nhưng nói thật, để trở thành người đàn ông đi chợ thành thạo như hôm nay, anh đã mấy lần trả học phí. Anh từng mua trứng gà “lạ” mà tưởng trứng gà ta, nho “lạ” mà tưởng nho Ninh Thuận, đến khi về nhà mới hay mình bị lừa. Mấy quầy hàng chơi xấu đó, đừng hòng anh quay trở lại.
Sự căng thẳng trong những lần đầu đi chợ rồi cũng giảm xuống dần, thậm chí, khi đã “có nghề”, anh còn cảm thấy niềm vui mua sắm. Nhìn bốn phía chung quanh, đâu phải chỉ mình anh là đàn ông đi chợ. Còn có những ông già về hưu, những viên chức bậc trung. Chợ này dễ chịu nhờ ít nói thách, nhưng khó chịu vì lấn chiếm lề đường quá đỗi. Có lỗi của những khách hàng bận rộn như anh. Những sáng có giờ dạy sớm, anh chỉ kịp rảo một vòng qua những quầy hàng ngoài đường, thế là góp phần cho những chiếc xe máy dồn ứ lại trên con đường trước cổng chợ vốn đã chật chội.
Hai ngày cuối tuần rảnh rỗi, anh mới gửi xe vào trong bãi, thong thả dạo chợ, ngắm nghía và cân nhắc. Phía sau chợ có mấy bà mấy chị bán cá rô, cá lóc ngon và rẻ. Hai năm nay anh đã thành khách quen của họ. Có một cô nước da bánh mật, mắt sáng, ngồi bán cá cùng chồng. Vợ làm cá, đánh vẩy, chồng cân cá, thu tiền. Hình dung chiều về, vợ chồng rửa tay sạch sẽ, ngồi đếm tiền lời, nấu nồi cơm nóng ăn với cá kho từ chỗ bán còn thừa, thấy cuộc đời dung dị mà hạnh phúc biết bao nhiêu. Vậy mà vài hôm sau, ngay trước mắt anh, vợ chồng họ bị mấy anh trật tự viên rượt đuổi, giật đổ cả thúng cá, phải chạy dạt đi chỗ khác, vì tội không bán trong quầy đúng nơi quy định.
Bao nhiêu mồ hôi nước mắt đã đổ cho mình có được bữa ăn, đời mình sao không biết ơn đời chợ. Những xã hội không có chợ là những xã hội lạc hậu nhất. Chợ là văn minh, nhưng chợ cũng có thể là nơi dối gian, lừa đảo. Khi mình là nạn nhân của chợ, thì mình cũng là nạn nhân của chính con người. Nhưng anh còn tin vào chợ, nghĩa là vẫn tin vào con người. Đi chợ, chuẩn mực và thước đo để anh chọn hàng không chỉ là nhãn hiệu sản phẩm mà còn là gương mặt, giọng nói, nụ cười của người bán hàng. Anh chọn mặt người để chọn mặt hàng. Anh mua hàng và mua cả lòng tin vào con người.
Một cái Tết nữa sắp đến. Hàng hoá, thực phẩm lại bày bán ê hề giữa chợ. Năm nay anh đã biết cách chọn hàng, anh sẽ sắm sửa để nhà mình ăn một cái Tết giản dị, bình an với thịt cá, rau quả của dân mình làm ra. Mình sẽ làm mâm cỗ cúng Tổ tiên với những món ăn truyền thống, vì ông bà mình không quen với thực phẩm “lạ” đâu nghe em.
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

BÁNH TRÁI MÙA XƯA - NGUYỄN NGỌC TƯ



Tết một lần, cùng hai lần đám giỗ, cậu lại ra nhà người anh cùng cha khác mẹ với mình. Lành như củ khoai, lành như đất, lành như một người kém trí, như cái tên Út Khờ. Đi lần nào cũng quên vài thứ, không quên mang dép thì cũng quên đội nón, nhưng có thứ cậu không bao giờ quên mang tới nhà anh chị cậu, là bánh. Giỗ này cậu đem bánh bột đậu, giỗ sau cậu góp cốm ngào đường, tết thường có bánh kẹp cuốn, bánh bông lan, bột đậu. Những thứ bánh trái quê mùa, nằm vơ vất trên bàn thờ, giữa những món đồ cúng đẹp đẽ khác. Vơ vất như thân phận của cậu: con riêng của ông nội với người đàn bà khác.

Anh chị và đám cháu không mê bánh nhà quê đó. Chỉ con nhỏ giúp việc nhà anh cậu là đón mừng nhiệt tình. Ăn một cái bánh nghe ngon nhức cả ký ức. Bánh của cậu gợi nhớ má nó đang nằm ho ở cái quê mị cà tha nào đó. Nó biết để có mớ bánh này, mợ (cũng hiền hậu thiệt thà y như cậu) đã phải nhồi bột đánh trứng từ hôm qua. Bột trứng dẻo nhẹo, cầm bàn chụp đánh mỏi nhừ tay, thì bột mới dậy, nở bung trong diệm, rồi được đem đi nướng. Than rực dưới đáy khuôn bánh, rải ủ đều trên cái nắp bằng gang nữa, cho hai mặt bánh vàng đều. Những mẻ bánh đầu hoặc khét quá hoặc chưa được vàng ươm như ý, mợ để lại nhà. Mớ bánh cậu mang đi phải là mớ bánh đẹp nhất, nuột nhất sau khi mợ trăn trở lửa trên lửa dưới. Mợ còn cắt giấy màu thành những sợi mảnh, rải vào keo bánh vừa để hút ẩm vừa trang trí cho đẹp.

Cậu mợ không biết rằng ra khỏi xóm làng rồi, vẻ đẹp ấy trở nên lạc lõng, bơ vơ. Chị dâu cậu thường càm ràm, đã nói đem bánh trái ra chi mắc công, có ai ăn đâu… Cậu hiền lắm, nói mười hiểu hai, cười cười, cúng ba má mà đi tay không, coi sao được chị.

Má con nhỏ giúp việc cũng thường nói vậy, khi lụi hụi chuẩn bị bột, nhân, lá để làm bánh này nọ đi cúng quảy ở nhà họ hàng. Cái hồi người ta chưa bán bột làm sẵn, má nó còn phải ngâm gạo nếp qua đêm, có khi ngâm với khóm cho gạo mau mềm, để xây làm bột. Làm bánh, nói gọn lỏn vậy mà có bao nhiêu chuyện lắt nhắt phải lo, đến nỗi tàu lá đem ra phơi nắng cho vừa héo để gói bánh, trẻ con cũng không phụ được, vì không biết cỡ nào mới vừa. Má nó lo toan hết. Chị em nó mười, mười hai tuổi đã được má dạy làm bánh, thành con gái rồi má nó vẫn lo “mấy đứa làm chưa khéo…”. Chị nó lấy chồng năm rồi, chuẩn bị cho đám gã, má nướng bánh bột đậu, bánh kẹp từ năm ngày trước.

Một cái đám ở quê thường được nhắc nhớ bởi những món ăn ngon. Bây giờ người ta vẫn nhắc món bánh bò bông má nó làm hôm gã chị. Mịn và xốp, và những múi bánh như cánh hoa nở đều đặn, tươi tắn. Làm ra một món ăn ngon, hay một cái bánh ngon, thì đến lửa nhỏ lửa lớn mình cũng phải chăm chút nữa. Má con nhỏ giúp việc không nói vậy, nhưng nó tự học từ cái cách bà nắn nót rút bớt cây củi ra khỏi bếp, hoặc thêm vào mấy cục than.

Hồi đó, mỗi lần má con nhỏ làm bánh là cả một cuộc hội hè. Ngoài những thứ bánh được gọi là sang chỉ có ở những giỗ, Chạp, hay dịp tảo mộ, còn có những tiệc tùng đơn sơ hơn, ít tốn kém hơn, mà vẫn thấm đẫm hương vị. Xay lá mơ tam thể với bột, đắp vào lá mít hấp lên chan nước cốt dừa, vậy là con nhỏ được ăn bánh rau mơ. Bột trắng cán bằng chai, xong xắt sợi thả vào xoong nước đường, bột chín nổi lên mặt nước vậy là thành bánh canh ngọt cho đám nhỏ sì sụp. Hôm nào có cá lóc thì má nó nấu bánh canh mặn. Rồi thì bánh chuối hấp, chuối chiên, bánh cam nhân đậu… Bột bánh ít thừa ra từ lần làm bánh trước, má nó đem treo giàn bếp, hôm nào mưa dầm bà đem chiên lên, chị em nó lại được gặm món bánh tổ nóng hổi.

Con nhỏ giúp việc, lần đầu tới nhà chủ, nó khoe nó biết làm nhiều loại bánh, kể cả mấy loại bánh ngon hết xảy như kẹp cuốn, tai yến, tàng ong… tất nhiên là không ngon bằng má nó làm. Nhưng bà chủ phủi đi, nhà bà không làm bánh bao giờ, muốn thì bước ra cửa, thiếu cha gì món ngon, ì ạch làm gì cực thân. Bà cũng từng nói với thằng em chồng khờ khạo của mình câu đó.

Và cậu Út hiền lắm, nói mười hiểu ba, lại nhoẻn cười bảo, nhưng vui lắm, chị.

Con nhỏ giúp việc cũng từng nghe câu nói đó từ người mẹ của mình. Cực mà vui. Chỉ là không biết giải thích làm sao với người khác niềm vui sướng khi lấy từ khuôn gang nóng rực ra những cái bánh thơm lừng, ngui ngút khói. Mẻ bánh đầu đời đó, con nhỏ vẫn còn nhớ, những hạt đậu phộng rang nó ấn vào giữa cái bánh như một nhụy hoa, nhưng bánh nướng xong thì đậu rơi mất, bánh bột đậu trở thành bánh bột. Má nó nói phải học từ chuyện nhỏ xíu vậy, mới làm được cái bánh vừa đẹp vừa ngon.

Ta chỉ cần ví cảm giác đó với cảm giác cô nghệ sỹ múa ba lê vừa hoàn thành một cú xoay khó. Kinh điển, với chỉ chừng ấy động tác, nhưng từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, người nghệ sỹ vẫn đổ mồ hôi để cố hoàn thiện nó. Nhưng cậu hiền đến ngớ ngẩn, nên chỉ có thể nói cực mà vui, để nhận được từ con nhỏ giúp việc một cái gật đầu đồng tình, đúng đó, vui. Người chợ thì nhăn mặt ngán ngẩm, nói gần nói xa mà không dẹp được vụ bánh trái quê mùa này.

Cũng phải, dẹp cả một nền văn hóa thảo thơm đồng bãi, đâu có dễ