Hiển thị các bài đăng có nhãn ctxh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ctxh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( Kỳ 118)

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
1.181 - Brian Cleaver
CỰU BINH ÚC ĐI TÌM HÀI CỐT BỘ ĐỘI
Cựu binh Úc về hưu. Sống ở Uc (2012).

Năm 1968 là lính viễn chinh Úc đóng quân ở Bình Dương sau một trận đụng độ với bộ đội VN đã tận mắt chứng kiến 42 thi hài quân địch để lại sau đó được đơn vị Úc chôn dưới một hố bom trong địa phận xã Bình Mỹ.
Sau đó theo quân Úc rút về nước.

Đến năm 2002 cùng đồng đội John Bryant trở lại địa điểm cũ với mục đích truy tìm ngôi mộ bộ đội tập thể đó để tìm cách báo lại cho thân nhân của họ biết. Tự bỏ tiền túi trang trải mọi chi phí, có được các đồng đội cũ hỗ trợ chút ít.

Nhưng dù mang theo các tư liệu ghi chép còn lại (có cả ảnh chụp hồi đó nữa) nhưng qua 10 năm đã 8 lần đến Bình Dương vẫn chưa tìm được tung tích nấm mồ đó do thời gian qua khung cảnh nơi đây thay đổi quá nhiều. Đã tiến hành đào xới 5 hecta trong khu vực song ngẫu nhiên chỉ khai quật được một nấm mộ bộ đội thì lại không thuôc số 42 người kia.

Thay vào đó nhờ sự hợp tác của địa phương và đơn vị quân đội phụ trách công tác liệt sĩ đã tìm ra được thân nhân của 33 bộ đội trong số người tử trận.

Công việc tìm kiếm đến nay vẫn còn tiếp tục với 2 cựu binh nước ngoài vì “Nếu tôi là một trong những người lính mất tích đó thì tôi cũng hy vọng có ai đó sẽ tìm kiếm hài cốt mình. Việc tôi làm sẽ giúp những người đã hy sinh có thể sống một đời sống khác ở đó họ được sống trong hòa bình chứ không phải sống với súng đạn và mồ chôn tập thể.”

1.182 - Hạ Đình Nguyên
TÙ 2 CHẾ ĐỘ
Doanh nhân sinh khoảng 1948. Sống ở TPHCM (2012).

Thời chống Mỹ là sinh viên ĐH Văn khoa Sài Gòn khoa Triết tham gia phong trào sinh viên học sinh xuống đường biểu tình phản đối chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ, được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Tranh đấu của sinh viên Sài Gòn. Vì vậy nhiều lần bị cảnh sát bắt giam.

Từ đó sau 1975 làm việc trong Thành đoàn TPHCM rồi được chuyển công tác qua làm phó giám đốc một công ty đầu tư thương mại khi Miền Nam bắt đầu chuyển đổi cơ chế kinh tế đổi mới làm ăn thoáng hơn.
Nhưng không hiểu vì lý do gì một thời gian sau lại… bị bắt đưa ra tòa lãnh án tù vì tội kinh doanh phạm luật bất hợp pháp! Có dư luận cho đó là vì cung cách làm ăn “xé rào” kiểu mới của Miền Nam chưa được Miền Bắc chấp nhận hoàn toàn nên dựa vào cơ chế cũ để kết án! Đồng thời cũng có ý kiến do mâu thuẫn nội bộ trong cơ quan đấu đá lẫn nhau (?).

Sau khi ở tù về vẫn được Thành đoàn chiếu cố đưa đi làm giám đốc một trung tâm cai nghiện thanh thiếu niên. Từ đó có kinh nghiệm tách ra lập công ty tư nhân chuyên làm việc này gặp thời sống khỏe.
Song song đó rất hăng hái cổ vũ việc xuống đường phản đối Trung Quốc âm mưu xâm lấn VN giống như thời Mỹ – Ngụy đi biểu tình chống Mỹ. Nhưng bây giờ thời thế đã đổi khác rồi, chuyện đó lại bị chính quyền hiện hành… không cho phép!

1.183 - Mã Tuyên
TỘI CHÍNH TRỊ HỌA VÔ ĐƠN CHÍ KÉO DÀI
Doanh nhân gốc Hoa sống ở Sài Gòn – Mất 1994 tại TPHCM.


Đây chính là ân nhân của anh em cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong cuộc đảo chính năm 1963 dẫn đến cái chết thảm của 2 anh em nhà họ Ngô.
Nguyên là một cộng tác viên đắc lực của Cố vấn Ngô Đình Nhu em tổng thống. Có thông tin nói nhà đương sự là nơi đuợc NĐ Nhu đặt làm trung tâm liên lạc với Mặt trận Giải phóng Miền Nam chuẩn bị cho giải pháp khi cần có thể “bắt tay” hợp tác nhằm thoát khỏi ảnh hưởng khống chế của Mỹ.
Trong biến cố tướng Dương văn Minh cầm đầu phe đảo chính lật đổ NĐ Diệm năm 1963, anh em tổng thống đã bí mật theo đường hầm thoát ra khỏi dinh Độc Lập đến tá túc tại nhà Mã Tuyên một đêm để sáng hôm sau được đương sự cho tài xế lái xe đưa đến điểm thương lượng với nhóm đảo chính (nhưng kết quả cả 2 anh em bị giết chết tại chỗ kiểu “nhổ cỏ nhổ tận gốc” một cách dã man).
Từ đó đương sự liên lụy bị phe đảo chính bắt giam 3 năm và tịch thu tài sản. Mãn hạn tù trở về làm ăn bình thường như xưa.
Nhưng đến khi Cách mạng vào lại bị bắt giữ 4 tháng rồi thả ra. Tuy nhiên tiếp đó bị… bắt lại, lần này giam đến 4 năm ở nhà tù Chí Hòa, nhà cửa bị tịch thu hết.
Sau khi được thả ra, năm 1983 cùng gia đình (3 vợ 13 con) được phép xuất cảnh trở về quê quán định cư ở Đài Loan.
Dù vậy, năm 1992 lại quay lại Chợ Lớn sống nốt quảng đời còn lại với bạn bè cũ. Trước khi mất còn căn dặn kỹ phải chôn trong khu nghĩa trang “Nhị tì Triều Châu” của người Hoa ở Biên Hòa dể vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất quê hương thứ hai dù nơi đây đã mấy lần đày đọa mình quá oan!

1.184 - Trần Thái Đỉnh
LÝ THUYẾT GIA TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Giáo sư đại học sinh 1922 tại Hưng Yên – Mất 2005 ở TPHCM (84 tuổi).
Xuất thân tu sĩ Thiên Chúa giáo được Giáo hội cử đi du học Pháp từ năm 1953 về thần học và triết học.
Nhưng khi làm luận án tiến sĩ lại chọn đề tài về Phật giáo. Và tốt nghiệp tiến sĩ 1958 về nước đi dạy triết học ở ĐH Đà Lạt, Huế và Sài Gòn lại trở thành người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa hiện sinh vào VN. Còn viết báo phổ biến tư tưởng này trên tạp chí Bách Khoa ký Trần Hương Tử.

Từ giáo trình dạy đại học in thành nhiều sách giáo khoa lẫn chuyên luận triết học phương Tây có giá trị tiên phong thời đó như các cuốn về triết học hiện sinh, Descartes, Kant, cơ cấu luận…
Sau 1975 vẫn được giữ lại dạy đại học nhưng chuyển qua môn Pháp văn.
Cởi áo dòng lấy vợ bán hàng tạp hóa, sinh được 3 con trai (có con thứ ba đi tu). Còn làm thêm tham gia đánh đàn phong cầm ở nhà thờ và dịch tài liệu đạo Thiên Chúa.
Mắc bệnh ung thư kéo dài 5 năm mới mất.
Một số tác phẩm đã được chế độ mới in lại từ năm 2006 như “Triết học Descartes”, “Triết học Kant”…

1.185 - Trần Thành Trai
CHUYÊN GIA MỔ TÁCH ĐÔI TRẺ SONG SINH
Bác sĩ sinh 1938 tại Tiền Giang. Sống ở TPHCM (2012).
Thiếu tá bác sĩ quân y VNCH sau Giải phóng đương nhiên đi cải tạo 3 năm.
Ra trại cuối năm 1078 về lại TPHCM được nhận ngay vào làm bác sĩ khoa ngoại ở Bệnh viện Nhi đồng 1. Từ đó gắn bó với bệnh viện, bệnh nhi dù trong thời điểm đó đang rộ lên phong trào vượt biên trong đó bác sĩ chiếm số lượng đông trong giới trí thức.

Đã có nhiều thành tựu chuyên môn đáng kể trong việc điều trị bệnh nhi như về phương pháp phẫu thuật chỉnh hình hở hàm ếch cho các em, đặc biệt về các ca mổ tách trẻ sinh đôi qua các ca Song – Pha, Đào – Điệp, Việt – Đức (cùng mổ với bác sĩ Trần Đông A cũng cựu sĩ quan quân y VNCH).
Được bầu vào Quốc hội khóa 11.
Dù ở bất cứ cương vị nào vẫn làm việc với tinh thần cống hiến khiêm tốn: “Tôi chỉ như một ngôi sao vụt sáng trên bầu trời y học rồi chìm vào cái mênh mông của vũ trụ. Tôi thấy thật thanh thản với chặng đường đã qua.”

1.186 - Trần Thị Bé
“ĐỜI CÁT”
Lao động nghèo khuyết tật sinh 1969 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2012).
Năm 1972 chạy nạn chiến tranh vào trại tạm cư.
Một hôm cả gia đình đang ngồi ăn cơm bị một trái lựu đạn ném vào nổ tung làm mẹ và 5 anh chị em chết tại chỗ, cha bị thương nặng. Còn mình mới 3 tuổi bị cụt 2 chân.

Sau chiến tranh cùng cha trở về nhà cũ ở thị trấn Đông Hà dựng lại mái nhà tranh rách nát tá túc qua ngày giữa vùng đồi cát chập chùng xứ gió Lào nắng rát.

Học tiểu học được cha cõng đến trường, lớn lên nghỉ học ở nhà tìm cách kiếm sống quá vất vả do làm gì hay đi đâu cũng chỉ nhờ 2 tay lết đi. Nhiều khi quá chán nản muốn tự tử chết cho xong song lại thương cha già nên thôi không đành: “Tôi tuổi con gà. Gà chỉ nhờ 2 chân để kiếm ăn, vậy mà con gà tôi mất cả 2 chân!”
Năm 1990 lúc 18 tuổi được giúp đỡ lắp cho chân giả nhưng đi không quen mà còn dễ gây đau nhức (do một số mảnh đạn vẫn còn nằm sâu trong vết thương) nên vẫn thường lết đi như cũ nhanh và thuận tiện hơn.
Năm 1992 bố đi lấy vợ khác nên chỉ còn lại một mình tự lo liệu mọi việc.

Đến năm 1994 được một nhà từ thiện người Bỉ đưa đi mổ, gắp hết các mảnh đạn ra rồi lắp cho chân giả khác loại tốt hơn. Tuy vậy vẫn đi đứng nặng nề, chậm chạp.
Sống bằng nghề khập khiễng đi bán gia vị ở chợ ngày no ngày đói thất thường,
Ngẫu nhiên năm 1999 đạo diễn Nguyễn Thanh Vân từ Hà Nội về nơi đây quay bộ phim truyện nhựa “Đời cát” (kịch bản Hữu Phương – Nguyễn Quang Lập, diễn viên Công Ninh, Mai Hoa) về đề tài thời hậu chiến xảy ra trên vùng đất này trong đó có một nữ nhân vật… giống hệt đương sự cũng cụt 2 chân sống đời nghèo khổ cô đơn giữa trũng cát bao la mịt mù. Gặp được nhân vật đó ngoài đời quá tốt, thế là bản thân trở thành… diễn viên điện ảnh bất đắc dĩ, được mời vào đóng vai y như cuộc đời thực của mình!
Chỉ năm sau phim đoạt Giải thưởng Điện ảnh VN 2001.

Nhờ đó được nhiều người biết đến, cảm thương số phận bất hạnh hẩm hiu nên góp sức giúp đỡ cho cuộc sống dễ thở hơn. Còn được tổ chức từ thiện quốc tế hỗ trợ người khuyết tật cho đi một chuyến tham quan nước ngoài đến Luxembourg.
Nhưng qua “kinh nghiệm” đóng phim rút ra bài học quý báu nhất từ đó đã nảy ra ao ước như nhân vật nữ trong phim là có… một đứa con để an ủi tuổi già. Thế là quyết tâm xin một đưa con nuôi: “Cần nhất là một đứa con để trông cậy lúc tuổi già và đó cũng là nghị lực giúp tôi sống”.
Đứa con gái đặt tên là Phong An nghĩa là cầu cho “ngọn gió an bình” thổi đến đời con thay vì bao phong ba bão táp đã quất vào đời mẹ.
Rồi xin thêm một đứa con trai nữa cho “đủ nếp đủ tẻ” với niềm hy vọng: “Đời con sẽ không là đời cát, lăn lóc qua gió bụi trần ai như mẹ.”
Để nuôi con, mở quán bán nước. Từ đó niềm vui sống được nâng lên, còn tích cực tham gia thi đấu thể thao người khuyết tật giành được nhiều huy chương đua xe lăn, ném lao, ném đĩa, đẩy tạ…

1.187 - Trần Thị Cẩm Giang
MÁI ẤM THIỆN DUYÊN
Cán bộ về hưu sinh 1938 tại Sài Gòn. Sống ở TPHCM (2012).

Sinh ra trên đất Củ Chi vách thép thành đồng nên từ năm 14 tuổi đã tham gia họat động Cộng sản, làm giao liên, thanh vận rồi Hoa vận. Đã mấy lần bị địch bắt giam tra tấn vẫn giữ được ý chí kiên cường không khai báo.

Sau ngày Giải phóng, được cho đi học rồi về làm cán bộ phường.

Thời gian này có dịp chứng kiến thảm cảnh nhiều em bé mồ côi chịu di chứng CĐDC quá tội nghiệp nên mới nhận vài em về nhà nuôi. Không ngờ nuôi trẻ rất “mát tay” nên được nhiều gia đình quen biết có con mắc bệnh tương tự tỏ ý muốn nhờ nuôi giùm.

Nhưng phải chờ đến lúc về hưu mới có thì giờ làm chuyện này. Khi đó liền quyết đinh bán căn nhà được cấp ở thành phố lấy tiền về quê Củ Chi xây một khu nhà trên đất hương hỏa biến nó thành một cơ sở chuyên nuôi trẻ em nhiễm CĐDC, khuyết tật, bại não, tâm thần đặt tên là “Mái ấm Thiện Duyên”. Bà con đều kính phục gọi là “Má Mười”.

Đến năm 2007 nơi đây đã có hơn 120 em như vậy được Má Mười nuôi dưỡng. Để có tiền lo cho các cháu, má phải làm thêm tương hột, muối tiêu đem đi bỏ mối đồng thời còn nuôi heo gà, trồng nấm bào ngư đem ra chợ bán.

Được cái là nhiều mạnh thường quân khắp nơi nghe tiếng đã tìm đến ủng hộ, giúp đỡ một tay…

1.188 - Trần Thị Hiền
“HIỀN 58”
Lao động nghèo sinh tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Thừa Thiên – Huế (2011).

Lúc 15 tuổi đã đi du kích đánh Mỹ rồi chuyển qua bộ đội trên chiến trường Bình Trị Thiên.

Năm 1973 trong khi làm công tác vận chuyển lương thực đã bị trúng bom bi máy bay Mỹ thả. Bị vùi xuống hố đất, đồng đội tưởng chết rồi may mà còn nòng súng nhô lên khỏi mặt đất có người nhìn thấy mới đào đất lên cứu sống kịp thời.

Nhưng đưa vào bệnh viện chỉ cứu chữa tạm chứ không có đủ phương tiện để mổ lấy hết vô số mảnh bom còn nằm sâu trong cơ thể. Tính ra còn đến… 58 mảnh bom như vậy, nguy hiểm nhất là 2 mảnh ghim trong phổi, 2 mảnh chui vào tâm mạc tim và 11 mảnh khác rải rác trong đầu.

Sau chiến tranh, xuất ngũ thương binh nặng về làng (thị xã Hương Trà) lấy chồng là bộ đội trinh sát mất sức sinh được 6 con. Cả nhà sống bám vào một sào ruộng mà tiền trợ cấp chẳng bao nhiêu không kham nổi cơn lốc đời sống thời hậu chiến bao cấp nên con cái đều mù chữ, nhà cửa rách nát xập xệ.
Đã vậy, bản thân còn bị 58 mảnh bom “lưu tồn” hễ gặp trái gió trở trời là gây đau đớn toàn thân, đầu óc nhức như búa bổ, muốn đi bệnh viện mổ gắp ra thì biết lấy đâu ra tiền nộp viện phí? Bởi vậy đành chấp nhận sống chung với… mảnh bom Mỹ, từ đó nổi danh là bà “Hiền 58”!
Chưa hết, năm 2011 đứa con trai út bị phát hiện bệnh suy thận cấp, chở vào Huế chữa trị chỉ còn cách đi chạy thận mỗi tuần 3 lần, mỗi lần tốn hơn 3 triệu đồng. Muốn giải phẫu thì phải 300 triệu.

Chỉ lo tiền chạy thận cho con còn không nổi, chạy đôn chạy đáo mượn nợ khắp nơi riết rồi không ai dám cho vay nữa bởi biết lấy gì mà trả nổi. Đó là món nợ kéo dài lây lất từ thời chiến tranh qua đến thời hậu chiến mà ít ai có thể trả nổi.

1.189 - Trần Thị Thuấn
30 NĂM GẶP LẠI CHỒNG SỐNG CŨNG NHƯ CHẾT
Cán bộ về hưu sinh 1931 tại Quảng Ngãi. Sống ở TPHCM (2007).

Tham gia Cách mạng từ thời chống Pháp.
Năm 1947 lập gia đình với một bộ đội cùng quê. Đến đầu năm 1948 chồng nhận nhiệm vụ qua chiến trường Lào rồi từ đó mất liên lạc luôn.
Sau 1954 vẫn còn ở quê Quảng Ngãi tiếp tục hoạt động quân báo cho Cộng sản, nuôi giấu cán bộ trong vùng địch. Đến 1965 được lệnh mở rộng mạng lưới hoạt động nằm vùng, làm giao liên qua tỉnh Quảng Nam.
Sau ngày Giải phóng tiếp tục nhận nhiệm vụ mới ở quê nhà, hết lòng trông ngóng tin chồng song vẫn không một tăm hơi.
Bất ngờ tháng 6.1976 mới được người báo tin cho biết chồng đang bị thương nặng nằm viện quân y tại TPHCM. Bấy giờ mới hay sau 1954 chồng được điều từ Lào về hoạt động trên Tây Nguyên rồi cuối năm 1968 về lại Hà Nội, sau đó đưa lên Việt Bắc. Qua tháng 3.1975 được bổ sung vào chiến trường Miền Nam nhưng trên đường tiến vào Sài Gòn xe gặp tai nạn khiến bị thương trầm trọng đã đưa vào bệnh viện quân y.
Bản thân nghe tin như sét đánh ngang tai vội vào TPHCM gặp lại chồng đang nằm viện trong tình trạng hôn mê bất tỉnh do bị chấn thương sọ não quá nặng. Liền xin cơ quan cho chuyển công tác vào bệnh viện trong này để tiện việc chăm sóc cho chồng.
Nhưng cả một năm dài chăm bệnh cho chồng mà chồng vẫn không lai tỉnh, chỉ nằm liệt một chỗ nhìn vợ lặng lẽ mà không nói năng được tiếng nào! Đúng một năm sau thì ra đi, không lời trăn trối từ giã.
Đã vậy không hiểu sao chồng không được làm thủ tục chứng nhận liệt sĩ, không được hưởng bất cứ chính sách, chế độ nào qua hơn 31 năm nay. Có lẽ vào thời điểm giờ chót cuộc chiến tranh, ông đã bị “bỏ quên” bên lề lịch sử (đồng đội chỉ kịp đưa vào viện rồi phải nhanh chân theo đoàn quân tiến vào Sài Gòn)!
Nỗi buồn mất chồng còn cộng thêm nỗi buồn thế sự càng chất nặng trên đôi vai còm cõi của người vợ già đã bỏ cả gần hết cuộc đời cống hiến cho lý tưởng.

1.190 - Trần Tôn Trung Sơn
NGƯỜI KHÔNG TAY HỌC HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ MIT
Sinh viên sinh 1991 tại Quảng Trị. Du học Mỹ (2009).

Sinh ra bên dòng Bến Hải, được cha đặt tên Trung Sơn để ghi nhớ tên xã quê hương thuộc huyện Gio Linh.
Cha là bộ đội trên chiến trường Lào bị nhiễm CĐDC nên khi con mới ra đời đã chịu cảnh khuyết tật nặng gần như không có 2 cánh tay: Cánh tay trái chỉ có mỗi… bàn tay lại… mọc sát nách, còn cánh tay phải chỉ ngắn đến khuỷu tay với bàn tay chỉ có 2 ngón tay.
Vì thế năm 1992 cha mẹ phải xin đưa vào Làng Từ Dũ ở TPHCM chuyên nuôi dưỡng trẻ em nạn nhân CĐDC. Còn cha mẹ ra ngoài đi làm thuê, tối ngủ công viên để còn có điều kiện thỉnh thoảng đi thăm con.
Dù vậy vẫn nỗ lực học hành rất giỏi. Lớp 5 là học sinh giỏi toàn thành môn toán và tiếng Việt, thi vào trường THPT ở quận Tân Bình đậu thủ khoa, lên cấp trung học là học sinh giỏi toán, văn, Anh văn. Còn học cả võ taekwondo đạt đai nhất đẳng.
Vào đại học ngành công nghệ thông tin TPHCM vừa đi học vừa làm công ty phần mềm.
Năm 2009 được học bổng đi học Học viện Công nghệ MIT nổi tiếng ở Mỹ chuyên ngành trí tuệ nhân tạo là ngành tiên tiến hiện đại nhất mà VN còn hiếm chuyên viên. Hy vọng trí tuệ nhân tạo sẽ thay cho 2 cánh tay mất mát.
(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 -2012

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Tưởng niệm
955 - Nguyễn Hữu Có
CẢI TẠO 12 NĂM THÀNH “NHÂN SĨ”
Cựu trung tướng VNCH sinh 1925 tại VN – Mất tháng 7.2012 ở TPHCM (88 tuổi).
Thuộc nhóm tướng Dương Văn Minh đảo chính Ngô Đình Diệm, đến giữa thập niên 1960 từng làm Bộ trưởng Quốc phòng, Phó thủ tướng VNCH.
Năm 1967 bị phe “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ lừa cho đi công cán Đài Loan, Hàn Quốc rồi… cách chức cấm trở về khiến phải qua sống lưu vong ở Hong Kong.
Năm 1970 Tổng thống NV Thiệu cho phép về song buộc giải ngũ ra ngoài làm kinh doanh, ngân hàng dân sự.
Khi tướng Dương văn Minh lên cầm quyền tổng thống vài ngày trước 30.4.1975 riêng mình đã được gọi lại chuẩn bị giao nhiệm vụ nhưng chưa kịp động tay động chân gì thì… giải phóng!
Bản thân chập chờn nửa đi nửa ở, cuối cùng chấp nhận ở lại không theo Mỹ đi di tản dù cố vấn Mỹ sẵn sàng giúp vì nghĩ mình đã giải ngũ rồi không tội vạ gì với cách mạng. Sau đó muốn vượt biên thì sợ nguy hiểm cho gia đình có đến 12 đứa con nên thôi. Rốt cuộc… đi cải tạo 12 năm tận ngoài Bắc!
Trong thời gian ở trại đã được “Ơn trên kêu gọi” (vợ con mắc bệnh nặng được cầu nguyện mà khỏi bệnh) tự nguyện bỏ đạo Phật cải đạo Tin Lành năm 1983.
Năm 1987 được thả về “loanh quanh trong nhà trồng rau, nuôi gà”.
Đến cuối những năm 1990 được gợi ý tham gia hoạt động xã hội, qua năm 2004 chấp nhận lời mời làm thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN với tư cách “nhân sĩ” (nhân vật của chế độ cũ chấp nhận ở lại sống chung hợp tác với Cộng sản) cổ xúy cho tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc. Được cho đi Mỹ thăm viếng người thân, bạn bè thoải mái.
Hàng tuần có tham gia phụ việc nấu cháo từ thiện một lần cho bệnh nhân Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM.

278 - Nguyễn Mộng Giác
VIẾT TRONG THỜI CẤM VIẾT
Nhà văn Việt kiều Mỹ sinh 1940 tại Bình Định - Mất tháng 7.2012 ở Mỹ (73 tuổi).
Nhà văn xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp ĐH Sư phạm Việt – Hán Huế 1963, ra trường đi dạy trường Đồng Khánh ((lấy vợ Huế) rồi chuyển về quê nhà Quy Nhơn dạy trường Cường Để. Sau lên làm hiệu trưởng rồi làm luôn Chánh Sở Học chánh
Song song đó còn viết văn, bắt đầu nổi lên cuối thập niên 60 ở miền Nam với phong cách phân tích tâm lý hiện đại sâu sắc, tiềm ẩn tính triết lý, bút pháp cô đọng qua tập truyện ngắn ”Bão rớt”, các truyện dài “Tiếng chim vườn cũ”, “Qua cầu gió bay”, “Đường một chiều”, tập tiểu luận văn học “Nỗi băn khoăn của Kim Duung” (Kim Dung, tác giả truyện chưởng Hong Kong). Được trao Giải thưởng văn học quốc gia của chế độ cũ.
Vì thế năm 1974 xin nghỉ chức Chánh Sở HC chuyển về Bộ Giáo dục ở Sài Gòn làm chuyên viên cao cấp với mục đích muốn có điều kiện thuận lợi theo đuổi lâu dài con đường sáng tác.
Nhưng xảy ra biến cố 30.4. 75 nên bị cho nghỉ việc tuy tham tâm vẫn muốn hoà nhập, đóng góp với chế độ mới. Đành chấp nhận trở thành thợ… làm mì sợi – món ăn làm từ bột mì Liên Xô viện trợ phổ biến thời bao cấp thiếu đói – vừa làm vừa chở đi bỏ mối.
Tuy nhiên vẫn không buông bút, không bỏ cuộc văn chương với niềm tin sâu sắc “ngày mai trời lại sáng”. Nên vẫn tiếp tục viết trong giờ nghỉ trưa và tối về cặm cụi ở nhà khu ngoại ô Sài Gòn trong tình cảnh nhà văn “Ngụy” đuơng nhiên không được viết không được in, thậm chí còn có thể bị bắt vì điều đó!.
Từ đó bắt đầu thai nghén bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử “Sông Côn mùa lũ” viết bút bi trên những cuốn tập vở học trò. Tác phẩm viết về đề tài cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra nơi quê nhà Bình Định xa xưa, khởi thảo 1978 và hoàn thành 1981.
Nhưng đến đó thấy chờ “trời lại sáng” có vẻ… lâu quá mà xin vào làm báo Tin Sáng (báo TPHCM, của nhóm trí thức nhân sĩ chế độ cũ – “tại chỗ” - được chế độ mới cho phép hoạt động nhằm mục đích tập hợp tầng lớp này tham gia ủng hộ Cách mạng) cũng không đuợc nên đành… vượt biên một mình qua Mỹ (sau mới bảo lãnh vợ con qua). Phải trầm trầy trầm trật mấy lần (có lần bị bắt giam mấy tháng) mới đi thoát được năm 1982.
Thế rồi chính trên đất Mỹ, “Sông Côn mùa lũ” 4 tập dày 2.000 trang mới có cơ hội xuất bản năm 1991. Cùng lúc trở lại góp mặt trên văn đàn hải ngọai, tham gia viết lách trên nhiều báo, tạp chí trong đó có thời gian dài quản lý tạp chí Văn Học, cộng tác thường xuyên với tạp chí Hợp Lưu (thời gian đầu khi tạp chí này còn theo xu hướng chống Cộng ôn hòa kêu gọi hoà hợp dân tộc)…
Tiếp tục viết, in thêm tập truyện ngắn “Ngựa nản chân bon”, “Xuôi dòng”; tập tiểu luận “Nghĩ về văn học hải ngoại”…
Cuối cùng rồi cũng đến thời “trời lại sáng” - Đổi mới mới sớm quay về nước tìm kiếm sự đồng cảm đến muộn. Nhờ đó “Sông Côn mùa lũ” được ra mắt đồng bào trong nước năm 1998 (tái bản 2002), còn được một hãng phim trong nước mua bản quyền định chuyển thành phim…
Sau đó tiếp tục về nước nhiều lần, về thăm lại Huế quê hương thứ hai dù năm 2004 bị bệnh gan đã phải cắt một phần lá gan
Trong lúc còn bao nhiêu dự án ấp ủ đang hy vọng thực hiện trên quê mẹ thì trong một chuyến về nước làm việc kết hợp thăm bà con nhân ngày Tết 2009 mới được vài ngày thì bị đột quỵ ngã bệnh nặng phải lập tức được đưa về lại Mỹ chưa trị.
Từ đó phải ngồi xe lăn mọi việc trông nhờ vào vợ con chăm sóc, được 3 năm thì qua đời. Sau khi mất được giới phê bình trong nước ghi nhận là một “nhà văn nặng lòng với đất nước”.

1.171 – Bùi Quang Thận
NGƯỜI CẮM CỜ DINH ĐỘC LẬP
Đại tá Quân đội Nhân dân VN sinh 1948 tại Thái Bình – Mất 2012 ở Thái Bình (65 tuổi).
Trong khoảnh khắc lịch sử nhảy xuống xe tăng cầm cờ Mặt trận tiến vào dinh Độc Lập.
Vào bộ đội năm 1966 ở binh chủng Tăng – Thiết giáp.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Miền Nam, là đại đội trưởng tăng - thiết giáp chỉ huy một mũi tiến công đi đầu vào dinh Độc Lập (nay là dinh Thống Nhất). Bản thân có mặt trên xe tăng 843 là chiếc xe tăng thứ nhì tiến vào trong dinh (xe tăng thứ nhất mang số hiệu 390 đã húc đổ cổng dinh trước đó vài phút) liền nhảy xuống xe cầm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam xông vào dinh lên tận nóc dinh hạ cờ VNCH xuống để kéo lá cờ Mặt trận lên thay thế báo hiệu chế độ chính quyền “đổi chủ”.
Sau đó về Bắc được đưa đi học Liên Xô cũ 4 năm rồi về lại binh chủng cũ, làm tới chức Chủ nhiệm Tăng – Thiết giáp.
Đương nhiên được đề cử danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân song rốt cuộc không đạt tiêu chuẩn vì địa phương cấp xã không đồng thuận với lý do ông cụ thân sinh ở làng có dấu hiệu… mê tín dị đoan! Quân hàm cũng chỉ lên lon đại tá đến ngày về hưu năm 2000.

Về hưu ở quê nhà, cả ngày đầu tắt mặt tối phụ công việc làm ăn kiếm sống với gia đình, một mình lặn lội làm đầm tôm và phụ vợ mở cửa hàng bán gas, mình lo việc đi xe máy chở bình gas đến cho khách hàng…

1.172 – Đào Thiện Sính
GỬI HƠN 14.000 THƯ BÁO TIN LIỆT SĨ
Bộ đội về hưu sinh 1947 tại Hải Dương. Sống ở Khánh Hòa (2012).
Bộ đội trên chiến trường Miền Nam, tham gia đánh trận ở Tây Nguyên, miền đông Nam bộ. Năm 1973 được rút về làm Phòng Thông tin T.Ư Cục Miền Nam.

Sau 1975 xuất ngũ về quê. Nhưng qua 1979 lại được gọi tái ngũ đưa qua chiến trường Campuchia và Lào. Đến 1983 mới ra quân về quê nhà Hải Dương sinh sống. Lấy vợ sinh con, cả nhà sống bám vào nghề nông.
Năm 1988 đưa cả gia đình vào Khánh Hòa lập nghiệp, riêng mình được nhận vào làm bưu điện huyện.
Bản thân có một người anh trai cùng đi bộ đội hy sinh tại Miền Nam nhưng hoàn toàn mất tích nên lòng cứ nặng nỗi niềm muốn đi tìm dấu vết, thông tin về mộ phần, hài cốt anh giờ không biết lưu lạc nơi đâu. Lâu nay cố truy tìm tin tức anh trai bằng cách tìm đến các nghĩa trang xem mộ anh tình cờ có nằm ở đó không song gặp hoàn cảnh, điều kiện quá khó khăn nên chưa làm được bao nhiêu.
Từ khi vào Khánh Hòa mới có điều kiện đi thăm nhiều nghĩa trang liệt sĩ từ Quảng Trị vào Nam để tiếp tục tìm kiếm thông tin về anh trai nhưng vẫn chẳng có tăm hơi gì.
Tuy nhiên bù lại, qua những chuyến đi đó đã gặp gỡ biết bao người đồng cảnh ngộ như mình. Từ đó nảy sinh ra ý nghĩ nhân cơ hội đến nghĩa trang tìm anh mới “một công đôi việc” ghi chép thông tin về các ngôi mộ có dấu hiệu chưa được thân nhân viếng thăm rồi về nhà viết thư báo tin về địa phương (theo quê quán liệt sĩ ghi trên bia mộ) cho biết.

Để làm việc này đã lập cả một danh sách tên tỉnh thành, quận huyện, làng xã thay đổi qua các thời kỳ để đối chiếu tìm ra tên địa phương ngày xưa và bây giờ. Nhờ hồi trước từng làm nhiệm vụ ở phòng thông tin trong chiến khu nên đã có một số kinh nghiệm làm bài bản, khoa học.
Ban đầu phải viết thư tay, sau này mới có điều kiện photocopy mẫu lá thơ báo chỉ việc điền chi tiết vào nhanh chóng tiện lợi hơn. Nhưng phải mất tiền mua phong bì, tem thư so với đồng lương ít ỏi của một viên chức quèn. May mà dần dà nhiều người biết được công việc nghĩa tình thầm lặng này nên giúp đỡ tiền mua bì thư và cả bưu điện cũng cho miễn dán tem luôn.
Hành trình đi đến nghĩa trang bởi thế càng kéo dài ra tính ra đã đến cả hơn 100 nghĩa trang ở Miền Nam, tham dự cả các cuộc quy tập mộ liệt sĩ để góp nhặt thông tin thêm về tổng hợp lại.
Mỗi lần lên đường đều trang bị giống như thời bộ đội vào cuộc hành quân, chỉ có khác là bây giờ thủ sẵn chiếc kính lúp (để đọc những bia mộ qua thời gian mưa gió bị mờ hay nhòe chữ), sau còn có được chiếc máy ảnh con biếu cho để chụp lại toàn văn bia mộ đỡ nhọc công chép lại. Còn chuyện ăn ở thì đơn giản thôi, gặp đâu ăn đó, đụng đâu ngủ đó trong đó nơi tá túc ban đêm thuận lợi hơn cả chính là… nghĩa trang nơi mình đang “tác nghiệp”!

Cứ thế đã viết hơn 14.000 lá thư báo tin về mộ phần liệt sĩ gửi đi. Kết quả nhờ đó khoảng 30% trường hợp báo tin đã giúp người nhà đi tìm được mộ liệt sĩ. Nhưng không dám nhận sự báo đáp nào vì xem đây là việc “góp phần nhỏ làm được điều gì đó nhớ đến đồng đội đã ngã xuống” và “chỉ muốn làm lặng lẽ thôi”.
Tuy nhiên tin tức về anh trai mình thì vẫn biệt vô âm tín. Cho nên tự hứa với lòng mình “Ngày nào còn sống thì còn đi tìm anh, tìm đồng đội.”

1.173 - Miên Đức Thắng
TỪ NHẠC SINH VIÊN QUA GỐM SỨ
Nhạc sĩ Việt kiều Đức tên thật Phan Văn Thắng sinh 1948 tại Huế. Sống ở Đức (2012).
Vào Sài Gòn học ĐH Khoa học, từ đó tham gia phong trào sinh viên tranh đấu chống chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ. Nổi tiếng với một số nhạc phẩm phản chiến hát tập thể như “Hát từ đồng hoang”, “Dậy mà di”…
Bị chính quyền VNCH bắt đưa ra tòa về tội chống đối rồi nhân đó đẩy đi lính trường Thủ Đức năm 1969. Ra trường sĩ quan chấp nhận lệnh bố trí đi làm đơn vị hậu phương quân đội ở Tây Nguyên.
Có lẽ vì vậy mà “mất điểm” với Cách mạng nên sau 1975 không được ưu ái, đành tự lực cánh sinh cùng vợ mở tiệm bán thuốc Tây. Đến năm 1989 theo gia đình vợ xuất cảnh qua Đức.
Trên xứ người xa lạ chuyển qua nghiên cứu làm nghề gốm sứ nghệ thuật kết hợp vẽ tranh hợp thời hơn có thể giúp mưu sinh.
Còn nhạc vẫn làm nhưng không thành công gây tiếng vang như xưa do đã qua rồi thời tuổi trẻ sinh viên đầy nhiệt huyết đấu tranh. Và nhạc bây giờ chuyển hướng tìm đến với tình yêu hoài niệm quê hương Huế hòa quyện với niềm tin đạo Phật, 2 yếu tố thường song hành nối liền nhau:
“Tôi sông thơm lòng mẹ
Tình đầy nguồn xa xôi.
Đi qua bờ thế kỷ
Mênh mang điệu ru hời.
Sen chiều lên áo mới
Nội thành hát à ơi
Sông ơi, lòng có biết, tôi, sông là bến đò”.
(Tôi, Sông là bến đò)
Vẫn thường xuyên về thăm quê hương, nhất là quê Huế thân thương ghi đậm dấu ấn một thời học trò Quốc Học.

1.174 - Trần Minh Dũng
“DŨNG VIỆT NAM”
Lao động Việt kiều Philippines sinh 1971 tại Khánh Hòa. Sống ở Philippines (2012).
Năm 1989 vượt biên đường biển đến Philippines.
Sống luôn ở đây làm nghề bán giày dép vỉa hè, lấy vợ bản xứ sinh được 5 con.
Từ năm 2004 trở thành ân nhân “cứu hộ” ngư dân VN đánh cá chẳng may xâm phạm lãnh hải Philippines bị bắt hoặc bị bão trôi giạt vào nơi đây không nơi nương tựa không ai giúp đỡ. Khi đó tự nguyện làm cầu nối trung gian với chính quyền địa phương, đóng vai trò thông dịch, chạy giấy tờ, thậm chí còn lo thủ tục tòa án trong trường hợp ngư dân bị đưa ra tòa Philippines. Đã giúp hơn 30 nhóm ngư dân VN như vậy.
Từ đó được ngư dân VN thân tình gọi là “Dũng VN” như kiểu “Thần hộ mạng”, hễ ai đi biển cũng đều có số điện thoại của anh để gọi cầu cứu lỡ khi lâm cảnh ngộ lạc qua nước bạn bất đắc dĩ. Cả hải quân Philippines tuần tra biển cũng có số điện thoại này phòng ngừa khi cần sẽ nhờ hỗ trợ, phiên dịch.
Trả lời tại sao làm việc không công như thế, chỉ nói đơn giản “Vì họ là đồng hương, ở xứ người thấy đồng hương gặp nạn không lẽ bỏ mặc?”

1.175 - Trần Ngọc Huế
TỪ NGƯỜI HÙNG ĐẾN TÙ BINH
Việt kiều Mỹ nhân viên ngân hàng về hưu sinh 1942 tại Huế. Sống ở Mỹ (2012).
Xuất thân thiếu sinh quân VNCH, sau đó vào trường Võ bị Đà Lạt.
Ra trường 1963 xin chuyển về Sư đoàn 1 đóng tại Huế để ở gần quê nhà đúng như tên cha mẹ đặt.
Đến trận chiến Mậu Thân 1968 tại Huế, là trung úy đại đội trưởng Đại đội Hắc Báo đơn vị đặc nhiệm thiện chiến “đánh đâu thắng đó” của Sư đoàn 1 chỉ huy đánh giải vây Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1.
Từ chiến tích đó, được xem là một người hùng trẻ tuổi mới nổi lên của quân lực VNCH, được Tướng Tư lệnh quân Mỹ ở VN gắn huân chương, được Bộ trưởng Hải quân Mỹ tuyên dương là “Anh hùng của những anh hùng”. Cố vấn Mỹ rất khâm phục, còn đặt cho tên Mỹ là “Harry”.
Tiếp tục sự nghiệp quân đội thăng tiến, năm 1971 lên lon trung tá tham gia chiến dịch Lam Sơn 719 đánh Hạ Lào (Cộng sản gọi là chiến dịch Đường 9 Nam Lào). Không may đơn vị bị bao vây, bản thân bị thương nên chấp nhận ở lại cầm cự cho binh lính dưới quyền rút lui. Kết quả bị bắt đưa ra Bắc ở tù 13 năm.
Đến năm 1983 mới được trả tự do, vào Sài Gòn sống lây lất qua ngày.
May mắn có một cố vấn Mỹ cùng làm việc chung trước kia ở Sư đoàn 1 từng được sĩ quan Hắc Báo này cứu sống trong một trận đánh luôn nhớ ơn nên khi về Mỹ đã tìm mọi cách hỏi thăm tin tức, gửi tiền giúp đỡ.
Sau đó vận động cho bạn mình được bảo lãnh xuất cảnh qua Mỹ năm 1991 cùng vợ và 3 con gái, còn giúp đỡ tìm nhà, tìm việc làm nuôi gia đình.

1.176 - Trần Ngọc Liễng
LÃNH TỤ “LỰC LƯỢNG THỨ BA” CUỐI ĐỜI ĐI TU
Luật sư về hưu sinh 1923 tại Vĩnh Long – Mất 2011 ở Đồng Nai (89 tuổi).
Từng có quá trình thân Cộng từ năm 1954 làm việc chung với luật sư Nguyễn Hữu Thọ (sau là Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam).
Vì vậy bắt đầu năm 1966 từ nhiệm khỏi chức vụ ở chính phủ VNCH (phụ trách lĩnh vực xã hội) để tách ra hoạt động độc lập theo xu hướng chống Mỹ, chống chế độ độc tài quân phiệt Thiệu - Kỳ, đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ cho người dân Miền Nam.
Từ đó trở thành một trong những đại diện trí thức của lực lượng chính trị tự nhận là “Lực lượng thứ ba” không Cộng hòa cũng không Cộng sản mà đứng giữa hai thế lực đó với tham vọng đóng vai trò trung gian hòa giải tiến tới lập lại hòa bình cho đất nuớc. Biến nhà mình thành một địa điểm hội họp của phe đối lập chế độ Sài Gòn.
Nhưng thực tế không được như kỳ vọng với chiến thắng của Cộng sản 30.4.75 đẩy “Lực lượng thứ ba” tại chỗ không còn chỗ đứng, nhiệm vụ gì nữa đành tự động… giải tán!

Bản thân được chế độ mới mời làm “nhân sĩ” vào Mặt trận Tổ quốc VN, một tổ chức mang tính quần chúng không quyền lực chỉ đóng vai trò “làm cảnh” dân chủ cho chế độ. Cho nên chẳng còn làm được gì nữa như mong mỏi khác với thời trước dù sao cũng làm được vài việc có ích cho đồng bào, xã hội trên tiến trình dân chủ hóa đất nước.
Có lẽ vì vậy mà mấy năm cuối đời đã lên một thiền viện ở Đồng Nai… tu luôn - có pháp danh đàng hoàng Thích Kiến Huyền - cho đến ngày qua đời.

1.177 - Trần Quốc Hoàn
VẬN ĐỘNG VIÊN CHẤT ĐỘC DA CAM
Người khuyết tật sinh 1975 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).
Cha là bộ đội bị nhiễm CĐDC nên mình ra đời đã 2 chân bị teo lại không đi được muốn di chuyển phải dùng tay bò đi.
Dù vậy vẫn phấn đấu học tốt nghiệp THPT. Nhưng nhà nghèo cha mẹ phải nuôi 6 anh em nên không có điều kiện học tiếp lên đại học.
Bản thân không cam chịu chí hướng mình dừng ở đó nên vừa tìm việc làm đơn giản kiếm sống qua ngày (nhận đập dẹp lon bia phế thải bán làm phế liệu đúc lại) vừa tự mở ra một lớp học tình thương tại nhà dạy cho các em nhà nghèo bỏ học nửa chừng. Song song đó còn tham gia tập luyện môn thể thao đua xe lăn.
Từ đó đã khiến một cô gái xứ Huế đem lòng yêu thương lấy làm chồng năm 2001.
Kết quả bao công công sức trì chí chiến đấu chống lại số phận không may mắn như thế giống như dã tràng xe cát biển Đông 10 năm đã giúp nhiều em học tốt nghiệp cấp 3 và còn lên đại học nữa. Phần mình đạt thành tích Huy chương vàng Hội thi Người khuyết tật toàn quốc 2001, Huy chương đồng Paragames toàn quốc 2003.
Cũng năm này còn đạt được một “siêu” huy chương nữa là có con gái đầu lòng quý hơn vàng.

1.178 - Trần Tam Tiệp
VĂN BÚT CHỐNG CỘNG
Nhà báo Việt kiều Pháp sinh 1928 tại Vĩnh Long – Mất 2009 ở Pháp (82 tuổi).
Trung tá tâm lý chiến binh chủng không quân VNCH, chủ biên nguyệt san “Lý tưởng” của binh chủng này.
Trong biến cố 30.4.75 di tản qua Pháp.
Tại đây vào năm 1978 cùng luật sư Trần Thanh Hiệp (nhóm Sáng tạo) và nhà thơ Nguyên Sa chủ xướng tái lập Chi hội Văn bút VN hải ngoại thành viên Văn bút Quốc tế (PEN Club) được công nhận. Bản thân giữ chức tổng thư ký 3 nhiệm kỳ liên tiếp.
Với chức vụ đó có điều kiện tổ chức mạng lưới viết bài chống Cộng ở nước ngoài lẫn trong nước tìm cách gửi qua đồng thời vận động tổ chức Văn bút Quốc tế chống Cộng, lên tiếng phản đối chế độ cộng sản VN vi phạm quyền tự do tư tưởng, sáng tác của người dân.
Các hoạt động trên đạt một số kết quả trong thời gian đầu trên trường quốc tế nhưng về sau dần dần giảm hiệu quả do phản ứng từ chính quyền VN ngày càng được củng cố.
Trong thời điểm khó khăn đó thì năm 1994 bản thân lại không may bị tai nạn giao thông nặng chấn thương sọ não. Tuy được cứu sống song từ đó không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục tham gia hoạt động văn hóa chống Cộng như trước nữa cho đến khi di chứng bệnh phát tác qua đời.

1.179 - Trần Tâm
CÔNG DÂN KHÔNG QUỐC TỊCH NƯỚC NÀO!
Việt kiều Mỹ. Sống ở Mỹ (2007).
Cha là nhà báo chế độ chống Cộng nên sau 1975 bị bắt rồi chết trong tù.
Vì thế năm 1980 đưa gia đình (cả bà mẹ) vượt biên đường biển được một chiếc tàu Đức vớt đưa về Đức cấp giấy cho tạm trú.
Năm 1986 tự động đem gia đình rời khỏi Đức qua Mỹ theo một người anh kiếm việc làm ở một tổ chức xã hội tại Los Angeles đồng thời tranh thủ đi học đại học. Từ đó năm 2001 nộp đơn xin vào Mỹ tị nạn chính trị.
Nhưng bị bác đơn vì lý do trước đó đã ở Đức thì Đức phải giải quyết nên phía Mỹ ra lệnh trục xuất về lại Đức!
Tuy nhiên Đức cũng từ chối cho nhập quốc tịch Đức bởi đương sự và gia đình đang tạm trú mà đã tự ý bỏ Đức ra đi không xin phép quá thời hạn bình thường (như đi lo công việc riêng, đi thăm bà con hay du lịch) 6 tháng.
Thế là rơi vào tình trạng sống và làm việc tại Mỹ, giấy tờ tạm trú ở Đức song không được công nhận là công dân của… nước nào cả!
Mãi đến năm 2007 do dư luận cộng đồng Việt kiều ở Mỹ lên tiếng vận dộng mới được Quốc hội Mỹ gọi ra điều trần. Nhưng điều trần xong thì lại bị cảnh sát… bắt với lý do khong tuân hành lệnh trục xuất!
Cuối cùng được dân biểu Mỹ (Đảng Dân chủ) đại diện TP San Jose đông Việt kiều sinh sống can thiệp mới được tiếp tục cho phép tạm trú… chờ Uy ban Di trú Mỹ xem xét lại trường hợp này.

1.180 - Trần Thanh Sơn
NGƯỜI “KHÔNG THỂ TỰ ĐI”
Giảng viên đại học sinh 1984 tại Bình Định. Sống ở TPHCM (2012).
Cha là bộ đội nhiễm CĐDC nên mình sinh ra bị teo 2 chân, một tay bị teo 70%.
Chân như thế không đi được nhưng cũng không ngồi xe lăn tự đẩy được do tay quá yếu nên 12 năm học tiểu học đến THPT đều được cha cõng đến trường. May mà tay dù không bưng được chén cơm mà ăn song cũng còn đủ lực để cầm bút viết và sau này gõ bàn phím vi tính.
Từ đó học tốt nghiệp khoa công nghệ thông tin ĐH Khoa học Tự nhiên TPHCM. Đúng lúc đó thì người cha kính yêu qua đời vì chứng ung thư gan vỡ ra. Bây giờ phải nhờ bạn bè, bà con thay phiên nhau cõng mình đi học tiếp lên cao học đồng thời đi dạy môn tin học văn phòng tại ĐH Văn Lang.
Còn chịu khó học thêm ngành quản trị kinh doanh nhằm chuẩn bị sau này thực hiện ước mơ mở một ngôi trường nhỏ dạy miễn phí cho học trò khuyết tật cùng hoàn cảnh không may như mình: “Nếu mình đi được, con đường của mình sẽ khác. Nhưng mình không thể tự đi thì mình phải chấp nhận chuyện đó mà tìm cách khác để hòa nhập với cuộc sống.”

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 116 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1.161 - Chân Tín
THỜI NÀO CŨNG ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ
Linh mục Thiên Chúa giáo sinh 1919. Sống ở TPHCM (2012).
hời VNCH cùng đồng đạo Nguyễn Ngọc Lan nổi tiếng chống chế độ Thiệu - Kỳ theo Mỹ, chống chế độ lao tù bất công kiểu quân phiệt, đấu tranh cho quyền tự do dân chủ quần chúng. Chủ trương tạp chí Đối Diện tập hợp giới trí thức Thiên Chúa giáo tiến bộ và thiên tả nói lên nguyện vọng đó.

Nhưng sau 1975 khi đã có thời gian nhận chân thực tế chế độ mới Cộng sản cũng không hơn gì trong việc thực hiện quyền con người như trên nên lại tiếp tục phản đối chính quyền Cộng sản. Đòi hủy bỏ Hiến pháp 1992, tẩy chay bầu cử Quốc hội chỉ thể hiện quyền tự do dân chủ giả tạo “làm vì” mà thôi.
Vì vậy năm 1990 bị bắt quản thúc tại huyện Cần Giờ xa xôi xem như cách ly khỏi TPHCM.
Được dư luận nước ngoài lên tiếng bảo vệ, in phổ biến rộng rãi cuốn “Hồ sơ Chân Tín” phê phán chế độ Cộng sản VN bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, đấu tranh phi bạo lực của công dân.
Cho nên năm 1993 được chính thức trả tự do về lại cư trú tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế ở TPHCM nơi từng là “đại bản doanh” của linh mục quá cố Nguyễn Ngọc Lan.

Từ đó xem như bị quản thúc tại gia và mặt khác có lẽ do đã lớn tuổi nên cũng ít thấy hoạt động mạnh mẽ sôi nổi như trước nữa.

1.162 - John C. Schafer
CUỘC TÌNH TÁO BẠO ĐẤT CỐ ĐÔ
Giáo sư đại học Mỹ về hưu sinh khoảng 1944. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 1968 là sinh viên tình nguyện Mỹ từ một tổ chức xã hội phi chính phủ đến Đà Nẵng dạy tiếng Anh, sau đó ra Huế dạy tiếng Anh ở ĐH Huế.
Chính tại đây đã làm quen với nhạc Trịnh, làm bạn với Trịnh Công Sơn.
Và cũng tại đây nảy nở mối tình nên thơ với một cô sinh viên học trò chính gốc đất thần kinh con nhà gia giáo học ĐH Sư phạm Anh văn.
Cô này sau đó tốt nghiệp ra Quảng Trị dạy học đã quyết định làm đám cưới với ông thầy người Mỹ trẻ trung tài hoa bất chấp sự ngăn cản của gia đình. Thời đó ở xứ cố đô nặng phong kiến, việc con gái lấy chồng nước ngoài còn khá hiếm hoi mà lại là chồng Mỹ khi đang sôi sục phong trào chống Mỹ xâm lược VN nên đây quả là một “scandal” xã hội!
Vì thế không lâu sau đó người chồng Mỹ đành phải đưa vợ mới cưới về Mỹ sinh sống.
Dù bất đắc dĩ phải rời bỏ VN nhưng phải nói ông chồng Mỹ này là một người rất yêu mến VN thật lòng nên từ đó vẫn tiếp tục nghiên cứu viết báo in sách nhiều công trình về văn học nghệ thuật và lịch sử VN. Đặc biệt bây giờ với sự cộng tác gắn bó của người vợ VN trong công tác dịch thuật tác phẩm VN ra tiếng Anh làm tư liệu giúp chồng cũng như dịch các tác phẩm của chồng qua tiếng Việt.
Công việc đó vẫn được duy trì, tiến hành bền bĩ hơn 40 năm đến nay qua vô số đề tài văn hóa VN cả thời hiện đại lẫn cổ điển, cả VNCH lẫn Cộng sản không phân biệt. Đề tài âm nhạc có Trịnh Công Sơn, Phạm Duy; đề tài văn học gồm Lục Vân Tiên, Hoàng Ngọc Phách, Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Cung Giũ Nguyên, Võ Phiến, Phan Nhật Nam, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyên Ngọc, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu…
Cả 2 vợ chồng đã nhiều lần trở lại VN, về thăm Huế kỷ niệm một tình yêu không biên giới sâu sắc chung thủy.
Năm 2001 đã ra Hà Nội dự đêm nhạc kỷ niệm một năm mất Trịnh Công Sơn. Năm 2012 tác phẩm “Trịnh Công Sơn – Bob Dylan: Như trăng với nguyệt?” được in tại TPHCM qua bản chuyển ngữ của người vợ quê Huế.

1.163 - Nguyễn Văn Huyền
PHÓ TỔNG THỐNG “3 NGÀY”
Luật sư sinh 1911 tại Sóc Trăng – Mất 1995 ở TPHCM (85 tuổi).
Thời Pháp du học Pháp ngành luật.
Năm 1949 ra luật sư về hành nghề tại Sài Gòn. Từng làm luật sư biện hộ cho một số lãnh tụ Cộng sản bị Pháp bắt giữ truy tố tội chống chế độ như Hà Huy Tập, Nguyễn Hữu Thọ… Sau 1954 tiếp tục làm luật sư ở Sài Gòn. Rất có uy tín trong giới Thiên Chúa giáo đồng đạo theo khuynh hướng tiến bộ nên được khuyến khích tham gia hoạt động chính trị. Năm 1967 đứng đầu liên danh Thiên Chúa giáo đắc cử nghị sĩ vào Thượng viện VNCH, được bầu làm Chủ tịch Quốc hội.
Cuối tháng 4.1975 được tân Tổng thống Dương Văn Minh (Phật giáo) mời làm Phó Tổng thống gọi là để cân bằng với lực lượng Thiên Chúa giáo.
Nhiệm vụ đầu tiên là lên đài phát thanh đọc lời hiệu triệu trấn an dân chúng về tình hình đất nước có nguy cơ sắp rơi vào cảnh hỗn loạn sau khi cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ của chạy lấy người, từ chức rồi lập tức được Mỹ hộ tống bay ra nước ngoài. Sau đó, ngày 28.4 dẫn đầu phái đoàn chính phủ VNCH vào Trại Davids (nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất) để thương lượng với đại diện Cộng sản (thuộc 2 phái đoàn Cộng sản Miền Bắc và Mặt trận Giải phóng Miền Nam đang trong thời gian dự hòa đàm Paris lúc đó đã tạm ngưng) về việc ngưng bắn hòa giải dân tộc.

Nhưng thời điểm đó đã muộn cho việc này khi quân Cộng sản đang thắng thế chuẩn bị tiến vào Sài Gòn. Tiếp theo như mọi người đã biết, Tổng thống Dương Văn Minh đành phải ra lệnh binh sĩ VNCH “hạ vũ khí” chờ “bàn giao” chính quyền cho Cộng sản trong cảnh hòa bình tránh hai bên cùng là người Việt với nhau đổ máu thêm nữa.
Sau khi Cộng sản giành thắng lợi hoàn toàn, bản thân được ghi nhận công lao đóng góp cho hòa bình thống nhất đất nước liệt vào hàng nhân sĩ tham gia mặt Trận Tổ quốc VN vốn chỉ là một tổ chức chính trị quần chúng mang tính hình thức mà thôi, thực chất vẫn là do “Đảng lãnh đạo”! .
Đã vậy, từ trước 75 người nhiều bệnh tật gầy gò, sức khỏe đã suy yếu nên về sau cũng chẳng làm được gì nữa cho đến ngày qua đời lặng lẽ.

1.164 - Tô Thị Thủy
LÃNH TỤ SINH VIÊN TRANH ĐẤU TỪ BỎ CHÍNH TRỊ
Doanh nhân sinh 1946 tại Long An – Mất 2012 ở TPHCM (67 tuổi).
Năm 1967 là sinh viên khoa Việt – Hán ĐH Sư phạm Sài Gòn.
Nhưng không bao lâu hăng hái tham gia đi đầu trong phong trào sinh viên Sài Gòn xuống đường biểu tình liên tục chống Mỹ, chống chế độ Thiệu – Kỳ. Nhanh chóng trở thành một lãnh tụ sinh viên tranh đấu cùng thời với Huỳnh Tẫn Mẫm, Đoàn Kỉnh.
Sau đó bỏ học tiếp tục hoạt động trong phong trào sinh viên trí thức chống Mỹ, chống Thiệu - Kỳ. Trong thời gian này gặp và kết hôn với một bạn chiến đấu học lớp trên đã được kết nạp Đảng.
Tuy nhiên có điều khá lạ là sau ngày Cộng sản toàn thắng, chỉ có người chồng có ra mặt làm cán bộ ngành giáo dục song chỉ trong một thời gian ngắn rồi sau đó cả 2 vợ chồng đều âm thầm tự động… rút lui khỏi cơ quan Nhà nước! Có lẽ do đã thấy trước sự khác biệt, bất đồng quan điểm giữa lý tưởng đấu tranh chống Mỹ, chống Thiệu – Kỳ đòi quyền tự do dân chủ với chủ nghĩa độc đảng của Cộng sản.
Thay vào đó, 2 vợ chồng bắt đầu bước vào con đường làm ăn, làm hàng xuất khẩu kinh doanh thành công từ rất sớm. Hầu như không còn dính líu gì đến quá trình một thời tuổi trẻ đấu tranh chính trị hết mình!

1.165 - Trần Gia Phụng
SỬ GIA HẢI NGOẠI HIỆN ĐẠI
Nhà sử học Việt kiều Canada sinh tại Quảng Nam. Sống ở Mỹ (2012).
Tốt nghiệp ĐH Sư phạm và ĐH Văn khoa Huế ngành sử địa. Ra trường đi dạy học tại Đà Nẵng.
Sau ngày Giải phóng tiếp tục dạy học một thời gian rồi bỏ vào TPHCM sinh sống.
Năm 1995 đi Canada diện thân nhân bảo lãnh.
Bấy giờ mới chuyên tâm viết hàng loạt tác phẩm sử học về nhiều đề tài thời hiện đại mà mình từng là chứng nhân với quan điểm khác hoặc đối nghịch với cộng sản. Như về trận chiến Mậu Thân 1968, “Mùa hè đỏ lửa” 1972, lịch sử thuyền nhân VN, Miền Bắc sau hiệp định Gennève 1954, Hòa Hảo và nông dân Miền Nam, chính sách Trung Quốc đối với VN, quan hệ Mỹ – Trung Quốc, vấn đề Thái Bình Dương, trận chiến Hoàng Sa 1974…
Xen kẽ là những vấn đề lịch sử xa xưa hơn như nhà Tây Sơn, lịch sử Quảng Nam, chí sĩ Phan Châu Trinh, sự kiện Trung kỳ dân biến, những cuộc đảo chính cung đình, “Những câu chuyện Việt sử” (4 cuốn)…
Công trình lớn đáng kể có bộ “Việt sử đại cương” (từ năm 1.400-1950) gồm 5 tập in từ 2007-2009.

1.166 - Trần Hữu Dũng
QUÊ HƯƠNG VÀ TOÀN CẦU HÓA
Giáo sư đại học Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1941 tại Mỹ Tho. Sống ở Mỹ (2012).
Con trai của cố bác sĩ Nhà giáo Nhân dân Trần Hữu Nghiệp (1911-2006), một trí thức Nam Bộ đi tập kết để lại vợ và con trai, sau 1975 trở về TPHCM dạy ngành y đại học và viết sách báo
Con trai lớn lên ở Miền Nam, sau khi tốt nghiêp đại học vào làm Trung tâm Nguyên tử lực ở Đà Lạt. Năm 1963 được học bổng du học Mỹ.
Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ra dạy đại học ở bang Ohio.
Nhiều năm sau ngày thống nhất đất nước mới về TPHCM gặp lại cha lúc mình đã gần 50 tuổi.
Sau đó vẫn trở lại Mỹ làm việc vì “Sống ở đâu cũng đóng góp được cho quê hương”.
Từ đó năm 2004 lập trang mạng nổi tiếng “Viet Studies” – và trang “Arts & Letters Daily” - chuyên giới thiệu tổng hợp những bài nghiên cứu kinh tế – xã hội – văn hóa quốc tế chất lượng cao viết về VN, được đánh giá là “bộ lọc trí thức” về đề tài VN.
Nhắm mục đích đưa VN hội nhập thế giới và ngược lại: “Toàn cầu hóa và yêu quê hương không trái nhau. Phải có một quê hương giúp toàn cầu hóa trọn vẹn đúng nghĩa hơn”.
Làm tất cả học theo tấm gương người cha ngày xưa, đó là “sự hòa hợp giữa tính bộc trực thẳng thắn của người Nam Bộ và sự tế nhị của một người trí thức sống nhiều, biết nhiều, thấu hiểu và quan tâm đến người khác.”

1.167 - Trần Hữu Hám
“NGU CÔNG VIỆT NAM”
Cán bộ về hưu sinh 1928 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Thừa Thiên – Huế (2009).
Là cán bộ cộng sản tham gia kháng chiến cả 2 thời kỳ đánh Pháp đánh Mỹ. Về hưu sống ở làng La Chữ.
Giữa những năm 1980, thấy con đường trong làng chạy qua trước mặt nhà toàn đá tảng gập ghềnh kéo dài cả chục cây số làm trở ngại trẻ em trong làng đạp xe đi học lên Huế thật tội nghiệp bèn vác búa ra đập các tảng đá, nạy ra rồi tự tay đắp đất cho con đường bằng phẳng dễ đi hơn. Còn tận dụng các tảng đá đó làm rãnh thoát nước từ trên núi đổ xuống.
Làm cả một thời gian dài (sau rồi cũng có bà con làng xóm góp sức vào) kéo qua những năm 1990 mới tạm gọi là hoàn chỉnh dù lúc đó mình cũng đã thất tuần giống như tích cổ Trung Quốc có ông cụ Ngu Công gần 90 tuổi vẫn dẫn đầu đàn con cháu tay búa tay xẻng đục núi dời núi (đến 2 hòn núi) đứng chắn trước mặt nhà mình!
Không hề được ai trả công xá gì vẫn miệt mài làm cả chục năm như vậy, chỉ vì tâm nguyện “Mình làm việc nghĩa để đền ơn quê hương đã cưu mang gia đình trong những ngày miếng cơm còn xen lẫn củ sắn.”
Ngoài ra còn tự lập một “Bảo tàng nông cụ” gồm các mô hình những phương tiện, đồ nghề làm ruộng của nông dân như cái cày, cái bừa, cối giã gạo, máy xay gạo máy đạp nước … đặt ngay tại nhà cho bà con đến coi chơi.

1.168 - Trần Kim Hùng
TỬ TÙ HAM HỌC
Tù nhân sinh khoảng 1966 tại Huế. Bị giam ở nhà tù Chí Hòa, TPHCM (2006).
Con nhà có học, sau năm 1975 là sinh viên khoa Văn ĐH Huế năm thứ ba.
Nhưng nghe lời bạn bè rủ rê vượt biên mới bỏ nhà vào Sài Gòn cùng một người bạn âm mưu đến nhà một bà dì khá giả chờ lúc không có ai ra tay giết chết (siết cổ) rồi phá tủ cướp vàng và tiền chạy xuống Vũng Tàu tìm tàu vượt biên.
Tuy nhiên chưa đi được thì đã bị công an tóm gọn. Đưa về TPHCM ra tòa lãnh tội chủ mưu chịu án tử hình, bạn là đồng lõa tù chung thân.
May mà có cô bạn gái thời đại học thương tình cùng gia đình lục tìm hồ sơ cũ hồi trước từng có thời gian điều trị bệnh tâm thần ở bệnh viện còn lưu giữ để mang vào TPHCM nộp tòa án xin cứu xét giảm án. Kết quả được giảm xuống tù chung thân.
Người bạn gái chí tình kia trong suốt 3 năm sau đó thường xuyên đi thăm nuôi, rồi cũng đành chia tay theo gia đình đi Mỹ.
Còn lại một mình tiếp tục thụ án dài đăng đẳng từ năm này qua năm khác mà không còn ai đi thăm tiếp tế do cha mẹ già ở quê xa mà hoàn cảnh rất khó khăn. Nhiều lúc chán nản tuyệt vọng tìm cách tự tử đều không thành.
Dần dà cuối cùng bình tĩnh lại, dùng kiến thức đã học được của một sinh viên khoa Văn để tự xét bản thân tìm ra còn đường sống còn chống trầm cảm là con đường tự học. Tự học bằng cách tìm đọc bất cứ tài liệu sách báo nào có được hoặc mượn được, qua đó nghiền ngẫm bao ý nghĩa nhân sinh tự cổ chí kim để xây dựng cho mình một triết lý sống thanh thản chấp nhận cái giá phải trả cho tội lỗi của mình. Từ đó trở thành một tù nhân gương mẫu ai cũng kính trọng.

Năm 2005 người bạn tù chung thân được ân xá ra tù về quê làm rẫy. Sau đó đến lượt mình được nhà tù bắt đầu gửi văn bản lên cấp trên đề nghị cứu xét cho ân xá chưa biết kết quả ra sao.

1.169 - Trần Mạnh Cường (1)
LINH MỤC TUYÊN ÚY Ở LẠI
Tu sĩ Thiên Chúa giáo sinh 1942. Sống ở Đắc Lắc (2007).
Nguyên thiếu tá tuyên úy Thiên Chúa giáo trong quân lực VNCH từng tốt nghiệp khoa Văn ĐH Văn khoa Sài Gòn.
Bởi vậy sau ngày Giải phóng phải đi cải tạo khá dài ngày.
Trở về ưu tiên được đi H.O song đã từ khước chấp nhận ở lại, xin được quay lại phục vụ giáo xứ tại Buôn Ma Thuột thực hiện lý tưởng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” theo tinh thần Thư chung của Hội đồng Giám mục VN năm 1980.
Chấp nhận sông như vậy phù hợp với niềm tin bản thân: “Không đâu có thể yên bình bằng VN quê mẹ”.

1.170 - Trần Mạnh Cường (2)
TRẢ ƠN RỪNG, RỪNG TRẢ ƠN
Nông dân sinh 1950 tại Quảng Nam. Sống ở Nghệ An (2008).
Vào bộ đội đánh Pháp từ năm 1947.
Năm 1954 tập kết ra Bắc, được bố trí về đơn vị ở Thanh Hóa rồi Nghệ An.
Năm 1959 xin ra quân đi làm công nhân nông trường ở Nghệ An. Ba năm sau lấy vợ dân xứ Nghệ.
Năm 1964 được gọi tái ngũ phục vụ cuộc chiến Miền Nam bắt đầu nóng bỏng. Được chuyển về đơn vị phòng không địa phương từng lập chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ.
Chiến tranh kết thúc, trở về lại nông trường cũ xin nhận một vùng đồi núi rộng đến 20 hecta còn hoang vu để khai hoang trồng rừng. Vợ con đều ngại làm không nổi nhưng vẫn quyết tâm làm từ niềm tin “Mình là bộ đội hàng chục năm được rừng che chở, lo gì không làm được kinh tế từ rừng.”
Bắt tay vào khai hoang, xong mới tiến hành trồng rừng. Chỉ thuê nhân công làm việc dễ, còn việc khó việc quan trọng đều tự tay mình làm (không có con trai đỡ đần) như phân bố khu vực trồng rau quả và cây ngắn ngày đem bán để lấy ngắn nuôi dài, khu vực trồng cây công nghiệp lâu năm…
Kết quả sau 30 năm đã hình thành nên một khu rừng đủ các loại cây trồng lớp lang nghiêm chỉnh, có khu rừng cây ăn quả, khu rừng cây làm nguyên liệu giấy… Còn dành ra một khu định làm khu du lịch sinh thái.
Cũng nhờ đó nuôi 7 con gái học hành thành đạt, con đầu vào Quốc hội, con thứ tư lấy bằng tiến sĩ ở Úc: “Rừng đã nuôi cả nhà mình như thế, còn gì hơn nữa!”

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 -2012 ( KỲ 115 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1.151 - Đặng Đình Áng
“THIỀN SƯ TOÁN HỌC”
Giáo sư tiến sĩ toán sinh 1926 tại Hà Tây. Sống ở TPHCM (2012).
Vào Sài Gòn từ năm 1951.
Năm 1953 được học bổng đi du học Mỹ ngành toán. Năm 1958 tốt nghiệp tiến sĩ toán quay về Sài Gòn dạy đại học.
Năm 1960 làm Trưởng khoa Toán ĐH Khoa học Sài Gòn. Được mời đi thỉnh giảng ở nhiều đại học Mỹ, Pháp, Ý. Đã có hơn 130 bài nghiên cứu chuyên sâu toán trên báo chuyên ngành quốc tế.
Sau 30.4.75 vẫn ở lại dạy đại học như cũ dù có nhiều gợi ý ra nước ngoài làm việc thuận lợi hơn. Năm 1980 được cho phép đi nước ngoài dự hội nghị chuyên ngành quốc tế, được nhiều lời mời ở lại song vẫn từ chối để quay về
Hơn tất cả mọi điều, tình yêu quê hương sâu sắc là chất xúc tác gắn bó với đất nước như bụi tre xanh um tùm trồng trước cửa nhà nơi đô thị hiện đại đang “Tây hóa” bao trùm: “Quê hương là dải đất có núi có sông, có cây cỏ, có con người cùng chung quyền lợi vật chất và tinh thần nhưng không phải chỉ là thế, sâu xa hơn thế là những nấm mồ của những người đã khuất.”
Ngoài ra còn bắt nguồn từ tính nghệ sĩ của một người yêu nhạc, chính là chú ruột của Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn: “Toán và âm nhạc đều là nghệ thuật. Chơi nhạc là một cách thiền.”. Mà đã là thiền rồi thì ở đâu không được, ở đâu mà không làm việc được.
Vì vậy cũng như với toán học thu hút, chọn lọc bao nhiêu tinh hoa thế giới để về dạy lại cho học trò trong nước thì âm nhạc cũng thế từng lên sân khấu biểu diễn cùng ban nhạc bạn bè, thổi sáo trúc các giai điệu mượt mà của Mozart. Được học trò yêu mến tôn là “thiền sư toán học”.
Được phong Giáo sư ngay đợt đầu tiên cả nước năm 1980. Năm 2006 một hội nghị toán học quốc tế được tổ chức tai TPHCM mừng thọ ông 80 tuổi.

1.152 - Don Luce
TỪ “CHUỒNG CỌP” CÔN ĐẢO ĐẾN NẠN NHÂN BỆNH AIDS
Nhà báo Mỹ sinh khoảng 1938 tại Mỹ. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 1958 là sinh viên tình nguyện qua Sài Gòn dạy tiếng Anh theo chương trình giúp đỡ VN của một tổ chức tôn giáo Mỹ.
Từ đó kết thân với giới sinh viên VN nên khi bùng nổ phong trào sinh viên đấu tranh chống chế độ Mỹ – Ngụy cuối những năm 1960 đã tích cực hỗ trợ họ qua nhiều bài viết đăng báo Mỹ.
Trong đó nổi cộm vụ tố cáo chính quyền VNCH vi phạm nhân quyền đối với trẻ thơ nhân chuyện bắt giam 2 đứa con trai mới 7 tuổi và 5 tuổi của đại tá Việt Cộng Tư Chu (Nguyễn Đức Hùng) chỉ huy trưởng Lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định gửi cho nhà bà con ở Sài Gòn buộc sau đó nhà cầm quyền Sài Gòn phải thả ra năm 1968. Tiếp theo là loạt bài đăng báo Tin Sáng và báo Mỹ Time tháng 7.1970 tố cáo tội ác nhà tù “Chuồng cọp” giam giữ hành hạ tù nhân cộng sản tại Côn Đảo.
Bởi vậy năm 1971 bị trục xuất khỏi Miền Nam.
Về Mỹ tiếp tục lên tiếng về tệ trạng ngược đãi tù binh từ Miền Nam VN đến Guantanamo (Cuba), Iraq, Afghanistan trong cuốn “Những con tin của chiến tranh” (Hostage of War).
Năm 1977 hiệu đính bản dịch tiếng Anh cuốn “Đại thắng mùa xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng (do nhà báo Mỹ John Spragens dịch).
Năm 2005 rồi 2008 mới có dịp trở lại VN, gặp mà không thể nhận ra 2 đứa trẻ ngày nào mình giúp giải thoát khỏi nhà tù nay đều đã gần… ngũ tuần (ảnh)!
Cuối đời còn tham gia công tác giúp đỡ cộng đồng bệnh nhân AIDS bị cách ly sống nơi tận cùng nước Mỹ, bên cạnh thác Niagara sát biên giới với Canada.

1.153 - Lê Thị Mai
TÌNH YÊU “TỔ CHỨC”
Cán bộ về hưu sinh 1931 tại Huế – Mất 1983 ở Đà Nẵng (53 tuổi).
Chị ruột “Tử tù chuồng cọp” Côn Đảo” nổi tiếng Lê Quang Vịnh.
Khi em trai bị tù ở Huế mới đi thăm nuôi qua đó gặp gỡ thầy dạy của em trong tù, một cán bộ cộng sản. Sau khi người này ra tù tìm gặp lại, đôi bên nảy sinh tình cảm, từ đó được người yêu dẫn dắt vào con đường hoạt động cộng sản nằm vùng tại Huế từ năm 1960.
Năm 1965 bị bắt giam ở Huế trong lúc người yêu bị lộ cơ sở đã vượt tuyến ra Bắc.
Năm 1966 cùng một số đồng chí vượt ngục tìm vào chiến khu. Đến 1968 làm đội trưởng một đội công tác trở lại Huế tham gia cuộc chiến Mậu Thân.
Sau gần một tháng chiến đấu trong nội thành Huế, được lệnh rút lui rồi ra Bắc chữa bệnh, qua cả Trung Quốc điều trị. Một năm sau về nước đi học đại học.
Trong thời gian này cố công tìm người yêu cũ song không có tin tức. Thay vào đó, tổ chức (Đảng) gợi ý mai mối cho lấy chồng là một cán bộ tập kết người Quảng Nam.
Sau ngày chiến thắng Miền Nam, quay về cố huơng Huế làm bí thương phường. Đồng thời gặp lại người yêu cũ bây giờ làm hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm.
Nhưng hy vọng được ở lại quê nhà Huế không thành do chồng cũng trở về quê Đà Nẵng bắt phải đi theo mình.
Tuy nhiên cuộc sống gia đình sau đó không yên ấm kiểu “đồng sàng dị mộng”, hơn nữa bấy giờ mới phát hiện trước đây khi ở tù đã bị tra tấn để lại di chứng tuyệt đường sinh đẻ. Đành phải cay đắng nhận con nuôi vẫn không an ủi được bao nhiêu.
Từ đó buồn phiền sinh bệnh mất sớm trong nỗi buồn xa quê.

1.154 - Nguyễn Viết Vân
CÂU LẠC BỘ B93
Cán bộ phường sinh tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012)
Trong chiến tranh chống Mỹ là lính trinh sát đặc công, bị thương chuyển qua đơn vị công binh.
Sau 1975 xuất ngũ về làm cán bộ phường Kim Mã ở Hà Nội.
Khi thấy tình hình thanh thiếu niên trong phường bắt đầu rơi vào tệ nghiện ngập ma túy mới xin phép lập một tổ cựu chiến binh địa phương làm nhiệm vụ trấn áp bọn trùm buôn bán chất gây nghiện đồng thời đặt quan hệ với các cơ quan, hội đoàn, tổ chức y tế – xã hội hỗ trợ tìm cách giúp con nghiện cai nghiện. Dần dà công tác gặt hái thành quả bước đầu mới tiến lên đặt tên tổ này là CLB Cai nghiện tự quản B93.
Những ai cai nghiện thành công được giúp đỡ học nghề hoặc mở điểm lao động kiếm sống như sửa xe máy, buôn bán vặt… Nhiều người khi rảnh việc còn quay lại gia nhập làm thành viên CLB tiếp tục duy trì, triển khai hoạt động chống ma túy trên địa bàn.
Bản thân làm đầu tàu cho CLB không ít phen đối đầu với bọn côn đồ xã hội đen mấy lần đe dọa nguy hiểm tính mạng. Vợ con lo lắng can ngăn nhưng vẫn kiên quyết không lùi bước: “Ông trời bỏ quên tôi mấy lần chết hụt ở chiến trường thì nay có sá gì sợ chết vì việc nghĩa?”

1.155 - Tôn nữ Quỳnh Như
BI KỊCH TÌNH YÊU TRÍ THỨC THỜI CHỐNG MỸ
Cựu sinh viên tranh đấu chống Mỹ sinh tại Huế – Mất 1978 ở TPHCM.
Bác ruột (Tôn thất Dương Tiềm) và cha (Tôn thất Dương Kỵ) đều là nhà giáo nổi tiếng tham gia phong trào trí thức chống Mỹ – Thiệu nên bản thân là sinh viên ĐH Kiến trúc Sài Gòn cũng dấn thân xuống đường chống chế độ Thiệu – Kỳ.
Từ đó nẩy nở tình yêu với một lãnh tụ sinh viên tranh đấu thời đó là Lê Quang Vịnh vừa là đồng hương vừa là học trò của cha mình. Được người yêu vốn là cán bộ cộng sản đưa vào chiến khu tập huấn về công tác đấu tranh nội thành.
Nhưng sau đó trở về Sài gòn, Lê Quang Vịnh bị bắt đi tù “Chuồng cọp” Côn Đảo mất liên lạc.
Trong thời gian này xuất hiện “dệ tam nhân” Trần Quang Long cũng tham gia tranh đấu chống Mỹ, bỏ dạy học từ Cần Thơ lên Sài Gòn hoạt động, nổi tiếng là nhà thơ tranh đấu lúc đó (tác giả tập thơ “Thưa mẹ, trái tim”), làm chủ tịch Hội Sinh viên sáng tác. Anh cũng là học trò của cha mình nên qua đó quen biết rồi đem lòng yêu thương.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm, tưởng người yêu xưa đã bỏ mình trong ngục tù nên cuối cùng Quỳnh Như chấp nhận kết hôn với Trần Quang Long năm 1967.
Năm 1968 khi mình đang mang thai thì chồng đi theo cộng sản bỏ vào mật khu Tây Ninh sát biên giới Campuchia khiến vợ ở nhà bị bắt giam. Không bao lâu chồng bị bom B 52 đánh trúng hy sinh trên trận địa khi mới 27 tuổi (năm 2012 mới tìm thấy hài cốt truy điệu liệt sĩ) trong lúc ở Sài Gòn vợ sinh con trai trong nhà tù đặt tên Xuân Thắng với ý nghĩa chờ đợi mùa xuân đại thắng mãi đến 6 năm sau mới đến.
Năm 1969 được ra tù về nhà nuôi đứa con chưa hề biết được mặt cha đến ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975.
Ngày đó người tình cũ Lê Quang Vịnh trở về làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục TPHCM, đôi bên tái ngộ trong cảnh bẽ bàng, tình cảm vẫn còn dư âm nhưng người ấy vì lòng tự trọng bây giờ không thể nối lại đường tơ với người từng là vợ cũ của đồng chí mình đã hy sinh! Đành chia tay đi lấy vợ khác em một bạn tù cùng chí hướng.
Nỗi buồn “thân phận tình yêu” hẩm hiu chua xót kéo dài không bao lâu thì mắc bệnh xơ gan qua đời sớm năm 1978.

1.156 - Tôn Thất Cảnh
DẠY DƯỠNG SINH CHỮA BỆNH MIỄN PHÍ
Kiến trúc sư Việt kiều Mỹ về hưu sinh 1927 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Mỹ (2007).
Nguyên hướng đạo sinh bị bướu trong não nhưng đã tự học và tập môn Thái cực dưỡng sinh (Taichi) mà chữa khỏi bệnh.
Vì thế sau khi qua Mỹ năm 1986 dù tuổi đã khá cao song với tinh thần một hướng đạo sinh đã lập ra Hội Dưỡng sinh và mở lớp dạy môn này cho hàng ngàn người giúp họ chữa bệnh, giữ gìn sức khoẻ. Theo đúng 2 tôn chỉ mà Hướng đạo đã nêu là “Hạnh phúc thật sự chỉ tìm được khi ta giúp người khác” và “Muốn có hạnh phúc phải chia xẻ hạnh phúc của mình cho người khác”.
Hoàn toàn dạy không lấy tiền, chỉ mong có đóng góp tự nguyện để lấy tiền gửi về nước tham gia hoạt động từ thiện.

1.157 - Trầm Tử Thiêng
HƯỚNG VỀ TRẺ TỊ NẠN MỒ CÔI
Nhạc sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Nguyễn Văn Lợi sinh 1947 tại Quảng Nam - Mất 2000 ở Mỹ (64 tuổi).
Bắt đầu sáng tác ca khúc từ năm 1958.
Đến khi bị gọi nhập ngũ năm 1966 làm sĩ quan tâm lý chiến tiếp tục viết nhạc, nhiều bài về đề tài lính VNCH, nổi tiếng có “Bài hương ca vô tận” và “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” viết về cầu Trường Tiền ở Huế bị Cộng sản đặt bom nổ gãy cầu trong chiến cuộc Mậu Thân 1968.
Năm 1970 được biệt phái về Đài Phát thanh Sài Gòn tham gia thực hiện chương trình Phát thanh học đường.
Sau 1975 trốn trình diện rồi tìm cách vượt biên bị bắt ở tù.
Ra tù đến năm 1985 được xuất cảnh qua Mỹ.
Trên xứ người trở lại với âm nhạc, viết nhạc nói lên nỗi niềm người lưu vong mất quê hương như “Kinh khổ”, “Chợt nghĩ về hai nơi”, “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”… Qua đó vẫn mong mỏi một đất nước VN hòa bình, thống nhất, hạnh phúc thật sự như thể hiện qua bài “Hòa bình ơi, Việt Nam ơi”. Cộng tác mật thiết với nhạc sĩ đàn em Trúc Hồ cùng chí hướng, đặt lời cho nhiều ca khúc của Trúc Hồ.
Đặc biệt quan tâm nhiều đến giới trẻ em vượt biên mất người thân thành ra mồ côi, tìm cách giúp đỡ. Làm nhạc thiếu nhi về đề tài này với bài được biết đến nhiều nhất “Bên em đang có ta”. Cùng bạn bè lập Thư viện VN ở khu Sài Gòn Nhỏ, bang California.
Trước khi mất có di nguyện lập quỹ hỗ trợ trẻ em tị nạn mồ côi mang tên “Bên em đang có ta” nhan đề ca khúc dành cho các em kể trên.

1.158 - Trần Châu
TRẠI NUÔI NGƯỜI ĐIÊN TƯ NHÂN
Luơng y sinh tại Quảng Trị. Sống ở Ninh Thuận (2011).
Năm 1972 theo gia đình trong khu Công giáo sống ở thánh địa La Vang chạy nạn chiến tranh – thời điểm bùng nổ “Mùa hè đỏ lửa” – vào vùng rừng núi Ninh Thuận khai hoang lập thôn mới đặt tên La Vang ghi nhớ quê hương cũ. Cha tiếp tục hành nghề lương y.
Sau 1975 làm giáo viên xóa nạn mù chữ. Được một thời gian thì cha gọi về truyền nghề lương y, dặn con tuyệt đối chữa bệnh không được lấy tiền vì xem đây là việc thiện mình được giao phó phải làm.
Từ đó trị bệnh miễn phí cho tất cả mọi người trong vùng và cả từ nơi khác nghe tiếng tìm đến. Nhờ ở vùng rừng núi nên có điều kiện tìm được nhiều loại dược liệu Đông y trị bệnh hiệu quả.
Chữa bệnh miễn phí song người bệnh cám ơn vẫn gửi lại tiền trong phong bì đành phải cất giữ không hề đụng chạm tới. Mãi đến năm 1995 mở các phong bì ra tổng kết sơ sơ cũng được 30 triệu đồng không biết làm gì mới nảy ý dùng tiền đó xây một căn nhà cho những người nghèo không nơi nương tựa đến ở.
Nhưng do nơi này nằm chỗ xa xôi hoang vắng nên không có người nghèo nào chịu đến ở. Thế là phải cất công đi ra thành phố tìm… người đem về cho tá túc nuôi nấng. Và rốt cuộc chỉ có những người… điên, mắc bệnh tâm thần không người thân thích lang thang đầu đường xó chợ mình mới có thể đem về nuôi ăn nuôi ở!
Dần dà nơi đây trở thành một trại tâm thần “tư” do một cá nhân dựng nên, hoàn toàn “tự túc”. Nghĩa là bây giờ ngoài thì giờ khám chữa bệnh, mình còn phải nai lưng làm lụng đủ thứ công việc để kiếm tiền kiếm cơm gạo mắm muối nuôi đến hơn 70 bệnh nhân tâm thần “tại gia”!
Vừa chăm lo vườn xoài vừa đào ao nuôi cá, mua hàng về bán lẻ cho bà con quanh vùng, làm nước rửa chén đem bán dạo… Tối ngày tất bật đủ thứ việc ngoài đường, về nhà còn lo tổ chức cơm nước, tập cho tập thể người điên sống sao cho yên ổn hòa thuận. Tập cho họ tự lo nấu nướng, tắm giặt, tập cầu kinh, tham gia đàn ca sinh hoạt văn nghệ giải sầu...
May mà rồi công việc từ thiện đó cũng được nhiều người biết tới tìm cách hỗ trợ không ít thì nhiều, có người mua hàng giúp có người cho nợ tiền cơm gạo củi lửa…
Và trên tất cả đại gia đình người điên ngày càng trở nên hiền hòa hẳn, có lẽ một phần nhờ sống chung ở môi trường trong lành thoáng đạt tránh xa đô thị ồn ào náo động dễ đau đầu nhức óc. Từ đó người điên lại đem đến cho người tỉnh một niềm hạnh phúc đơn giản mà lạ lùng: “Sống với những con người như thế, mình cảm thấy thanh thản vô cùng”

1.159 - Trần Đình Trọng
NHỚ ƠN CỨU MẠNG
Nhà giáo về hưu sinh 1953 tại Quảng Ngãi. Sống ở Quảng Ngãi (2012).
Năm 1972 lúc 19 tuổi làm du kích xã ở địa phương bị trúng mìn hai chân nát hết được đưa về bệnh xá cứu chữa.
Chuẩn bị mổ thì bị địch bắn pháo vào bệnh xá buộc tất cả phải di tản, được 2 đồng đội bỏ lên cáng rút chạy. Nhưng bị địch truy kích ráo riết nên cuối cùng tự mình yêu cầu đồng đội giấu mình trong rừng để họ có thể thoát thân trước.
Trong tình cảnh hôn mê nửa thức nửa tỉnh cái chết đến gần kề thì mơ màng nghe thấy có mấy người lính phía bên kia tìm ra mình, có người định bắn chết luôn song bị một người khác tìm cách ngăn lại nói là trước sau gì tên Việt Cộng này cũng chết thôi. Thế nên cả bọn rút đi.
Không ngờ sau đó tỉnh dậy thấy có người – có lẽ người lính tốt bụng kia – lén để lại cho mình một bi đông nước và 2 bịch gạo sấy. Chính nhờ bi đông nước đó đã cứu mạng mình còn cầm hơi thoi thóp để sau đó được đồng đội quay lại tìm rồi đưa về trạm xá cưa chân trái cứu sống. Qua năm 1974 được chuyển ra miền Bắc tiếp tục điều trị, an dưỡng.
Sau ngày hòa bình, quay lại quê hương Quảng Ngãi. Năm 1977 thi đậu ĐH Sư phạm Huế khoa toán. Tốt nghiệp, xin về dạy trường Trần Quốc Tuấn ở quê nhà, lần lượt được đề bạt lên hiệu phó rồi hiệu trưởng.
Trong suốt khoảng thời gian đó vẫn không quên ân nhân cứu mạng bi đông nước và 2 bịch gạo sấy nên với một chân gỗ tập tễnh vẫn lặn lội đi nhiều nơi dò la tin tức người ơn năm xưa. Nhưng biết đâu mà tìm, biết ai mà tìm?
Mãi đến năm 2003 mới có thông tin đầu tiên từ Đà Lạt cho biết được tên tuổi người lính đó cùng quê Quảng Ngãi thuộc sư đoàn 2 VNCH sau này cũng là thương binh mất một tay trong một trận đánh năm 1973. Tuy nhiên không biết ở đâu, dường như là ở một khu kinh tế mới.
Thế là bản thân lại tiếp tục mở một cuộc hành trình đi tìm dân kinh tế mới khắp miền Trung và Tây Nguyên. Vẫn chỉ hoài công thôi.
Đến 2 năm sau thông qua mối liên hệ đồng hương Quảng Ngãi mới có được địa chỉ của người cứu mạng mình năm nào. Té ra đúng là dân kinh tế mới nhưng là đi kinh tế mới năm 1981 vào tận Bình Phước.
Cuộc hội ngộ không cầm được nước mắt giữa 2 người trước đây ở 2 bên chiến tuyến thù địch, còn lạ lùng ở chỗ một người mất chân một người mất tay đều từ khói lửa chiến tranh! Bây giờ chỉ còn là 2 con người, 2 thường dân trong đó người cựu chiến binh cộng sản nhỏ hơn 14 tuổi nhận mình làm em người “lính Ngụy”, xin được làm “người con trong gia đình”.

1.160 - - Trần Đông A
TỪ QUÂN Y CHẾ ĐỘ CŨ ĐẾN QUỐC HỘI
Giáo sư bác sĩ sinh 1941 tại Nam Định. Sống ở TPHCM (2012).
Nguyên sĩ quan quân y VNCH nên sau 1975 vượt biên bị bắt.
Nhưng được Sở Y tế TPHCM bảo lãnh về sớm đưa vào làm ở bệnh viện Nhi đồng 2 từ năm 1978 theo chính sách sử dụng “trí thức tại chỗ” của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt lúc đó nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám trong giới trí thức chế độ cũ bỏ chạy ra nuớc ngoài. Nhất là ngành y đang rất thiếu chuyên viên.
Từ đó chấp nhận ở lại công tác, dần dần có nhiều cống hiến nổi bật nhất là qua ca mổ tách cặp song sinh Việt – Đức năm 1988, sau đó là công trình nghiên cứu và thực hiện ghép thận cho trẻ em. Được ĐH Pháp mời qua giảng dạy năm 1995.
Được phong Giáo sư rồi vào Quốc hội.
(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 114 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1.141 - Dương Quang Thiện
NHÀ TÀI TRỢ HỌC BỔNG “CHUYÊN NGHIỆP”
Kỹ sư về hưu sinh 1933 tại An Giang. Sống ở TPHCM (2012).
Du học Pháp tốt nghiệp kỹ sư tin học, là người VN đầu tiên được Hãng IBM ở Mỹ tuyển làm chuyên viên. Lấy vợ giáo viên Thụy Sĩ.
Bỗng nhiên năm 1965 quyết định từ bỏ công việc lương cao và sự nghiệp quốc tế để cùng vợ quay về Sài Gòn làm việc khi đất nước đang trong thời chiến tranh ngày càng dữ dội chỉ vì ý nguyện đơn giản: “Đất nước còn nghèo sẽ cần tôi hơn các nước đã phát triển”. Là một trong những người đầu tiên du nhập khoa học công nghệ thông tin vào miền Nam.

Sau 1975 về hưu quay qua viết sách truyền bá tin học với hơn 50 đầu sách đã xuất bản.

Ngoài ra từ năm 1989 cùng vợ trở thành đôi vợ chồng trong nước bảo trợ rất nhiều học bổng cho học sinh sinh viên nghèo toàn quốc thông qua báo Tuổi Trẻ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ĐH An Giang ở quê nhà… Còn xây trường ở Sơn La, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau lẫn nhà cho giáo viên đời sống khó khăn tại Quảng Trị, Bình Định…
Tất cả theo chủ trương “lấy giáo dục nuôi giáo dục” với mục tiêu rõ ràng “Chúng tôi không làm từ thiện, chúng tôi đầu tư cho các em là đầu tư cho tương lai.”
Tất cả học bổng lấy từ tiền bán sách và trích lương hưu bà vợ Thụy Sĩ.

Bà hoàn toàn ủng hộ chồng, dần trở thành như một người phụ nũ VN thuần túy đi chợ nấu ăn toàn món VN. Bà mới qua đời tháng 5.2012 thọ 85 tuổi.

1.142 - David Pham
TIỂU THẦN BÀI MỸ “NGỌA HỔ TÀNG LONG”
Tay cờ bạc chuyên nghiệp Việt kiều Mỹ sinh 1967 tại miền Nam. Sống ở Mỹ (2012).

Năm 1984 lúc 17 tuổi vượt biên theo đường biển trên tàu chứa 145 người nhưng cuối cùng chỉ còn 45 người sống sót đến được Mỹ.
Ban đầu được người cậu Nguyễn Văn Mến đưa vào làm tiệm giặt ủi của ông, sau đó được ông vốn là một tay chơi cờ bạc chuyên nghiệp nổi tiếng ở Las Vegas truyền nghề đánh bài poker (gần giống bài xì phé ở VN).
Từ đó dần vươn lên hàng “sao” thần bài được bầu tay bài “chiến” nhất năm 2000 và 2007, năm 2008 xếp hạng 7 thế giới lẫn Châu Âu. Được phong biệt danh “Rồng”.
Đến năm 2009 đã gom tiền giải thắng độ lên tới hơn 8,1 triệu USD.

1.143 - Đặng Lương Mô
HAI LẦN HỒI HƯƠNG
Giáo sư tiến sĩ sinh 1936 tại Hải Phòng. Sống ở TPHCM (2012).
Di cư vào Nam 1954.
Năm 1957 được Nhật Bản cấp học bổng du học. Năm 1968 tốt nghiệp kỹ sư, thạc sĩ rồi tiến sĩ chuyên ngành điện tử vi mô ra làm việc cho Hãng Toshiba. Nhập quốc tịch Nhật (có tên Nhật).
Năm 1971 trở về Miền Nam dạy ĐH Khoa học.
Sau ngày Giải phóng do có quốc tịch Nhật nên được quay về Nhật dạy đại học ở Thủ đô Tokyo.
Trong thời gian này tập trung vào công tác nghiên cứu thực hiện hơn 300 công trình giá trị và nhận 13 bằng phát minh quốc tế.
Ngoài ra vẫn mang nỗi niềm nhớ quê nên từ năm 1989 vận động kiều bào ở Nhật đóng góp mua thiết bị khoa học gửi về tặng các trường đại học trong nước, giúp đỡ giảng viên trong nước ra nước ngoài tập huấn, đào tạo lại. Và còn dịch truyện thơ “Bích câu kỳ ngộ” ra tiếng Nhật.
Năm 1994 trở lại VN dự hội nghị bàn về cải cách giáo dục VN.
Năm 2002 quyết định hồi hương về định cư hẳn tại TPHCM, làm tư vấn và tham gia giảng dạy cho ĐH Bách khoa TPHCM.

Từ năm 2005 vận động Toshiba cấp học bổng cho sinh viên VN và bản thân cũng trích luơng hưu làm học bổng cho sinh viên nghèo gặp khó khăn.

1.144 - Francoise Demulder
TÁC GIẢ BỨC ẢNH NGHI ÁN LỊCH SỬ XE TĂNG HÚC ĐỔ CỔNG DINH ĐỘC LẬP
Phóng viên ảnh chiến trường người Pháp sinh 1947 tại Pháp – Mất 2008 ở Pháp (61 tuổi).
Đến Sài Gòn từ năm 1972 bám sát chiến trường Miền Nam chụp ảnh thời sự.
Ngày 30.4.1975 là nữ phóng viên ảnh duy nhất cả nước ngoài lẫn VN có mặt trước dinh Độc Lập chụp được bức ảnh lịch sử xe tăng 390 đầu tiên tiếp cận dinh Độc Lập húc đổ cổng chính tiến vào khuôn viên bên trong.
Tuy nhiên bức ảnh này chỉ được đăng một lần duy nhất trên báo Pháp, sau đó nằmtrong bộ sưu tập lưu trữ của tác giả. Trong khi đó bức ảnh tương tự được phổ biến trên báo đài trong nước là bức ảnh khác do một phóng viên bộ đội chụp xe tăng 843 đến sau tiến vào từ cổng phụ (trong ảnh mũi tên chỉ là tác giả đang chụp xe tăng 390, phía sau mới là xe tăng 843). Chính từ chiếc xe tăng thứ hai này mà chính ủy Bùi Quang Thận đã nhảy xuống chạy vào dinh Độc Lập bắt giữ toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh vừa tuyên bố đầu hàng.
Từ đó lịch sử ghi nhận chiến tích “đánh” dinh Độc Lập thuộc về xe tăng 843 của Bùi Quang Thận. Tổ bốn chiến sĩ xe tăng 390 dù biết chuyện cũng không có điều kiện đính chính, hơn nữa sau đó họ ra quân trở về đời sống thường dân nên cũng không quan tâm gì lắm!
Bản thân tác giả người Pháp cũng không hay biết sự nhầm lẫn này bởi sau đó còn bận tiếp tục làm nhiệm vụ phóng viên ảnh chiến trường tại Angola, Liban, Campuchia, El Salvador, Iran, Iraq, Palestine, Kuwait… Năm 1976 trở thành phóng viên ảnh nữ đầu tiên được tặng giải Anh thời sự xuất sắc nhất thế giới với tấm ảnh chụp cảnh nội chiến ở Liban.
Mãi đến năm 1994 một nhà ngoại giao VN đến Pháp tìm thăm bà mới phát hiện ra sự thật đòi hỏi phải xem lại nghi vấn này. Nhưng trong nước vẫn chưa giải quyết được vấn đề, gặp trở ngại một phần do “anh hùng” BQ Thận kể trên nay đã là… Tư lệnh binh chủng Tăng – Thiết giáp, còn nhà nhiếp ảnh bộ đội chụp bức ảnh thứ hai kia bây giờ lại là… Tổng Giám đốc Thông tấn xã VN!

Cho đến năm sau đích thân nhà báo nữ người Pháp qua VN dự lễ kỷ niệm 20 năm giải phóng Miền Nam đã yêu cầu làm rõ sự thật và đích thân bà còn về tận quê đi tìm gặp đủ bốn cựu chiến binh xe tăng 390 để xác minh lại. Từ đó Bộ Quốc phòng phải tổ chức cả một hội nghị để đi đến quyết định thống nhất trả lại vinh quang cho bức ảnh lịch sử xe tăng 390 của bà cũng là sửa lại một sự kiện lịch sử quan trọng.
Năm 2008 bà qua đười do bị sốc tim trong lúc đang điều trị bệnh ung thư. Được Chính phủ Pháp tôn vinh là “Nữ phóng viên chiến trường dũng cảm nhất nước Pháp.”

1.145 - Men Nguyen
“ĐẠI SƯ” THẦN BÀI MỸ
Tay cờ bạc chuyên nghiệp Việt kiều Mỹ tên cũ Nguyễn Văn Mến sinh 1954 tại Phan Thiết. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 13 tuổi đã bỏ học đi làm lơ xe bus kiếm tiền giúp gia đình.
Năm 1978 vượt biên đường biển cùng 87 người đến Mỹ.
Năm 1984 lần đầu tiên đến Las Vegas làm quen với nghề đánh bài poker ăn tiền chuyên nghiệp. Ban đầu liên tục thua te tua tới mức bị gán cho biệt danh “Máy xay tiền”. Nhưng dần dà tay nghề ngày càng cứng, từ 1987 bắt đầu thắng nhiều giải có tiền để mở tiệm giặt ủi và cửa hàng bán đồ nội thất.
Thành tích thần bài trên đưa đến biệt danh “Đại sư” cờ bạc (The Master) năm 1991, được tuần báo Los Angeles đưa ảnh lên trang bìa.
Năm 1990 bán hết cả 2 tiệm để tập trung thì giờ, công sức vào… sòng bài!
Từ năm 2000-2004 đã đoạt hơn 75 giải. Được xếp Số 1 Thần bài Mỹ năm 1997, 2001,2004, 2005, dự hơn 120 vòng chung kết. Gần nhất năm 2010 thắng tổng cộng tiền 394.807 USD. Năm 2011 có tài sản trên 10,3 triệu USD từ tiền ăn bạc, xếp thứ nhì trong lịch sử poker Mỹ chỉ chịu đứng sau thần bài Mỹ chính hiệu P. Hellmut.
Từng bị tố là chơi gian lận song không có chứng cứ cụ thể.
Ngoài ra còn làm thầy dạy một số đệ tử ruột thành “tiểu” Thần bài kế tục sự nghiệp như 2 người cháu David Pham và Minh Nguyên.
Đã về nước làm công tác từ thiện tại quê nhà Phan Thiết, xây một nhà trẻ.

Và trong một lần như vậy vào năm 1990 gặp cưới một người đẹp cùng quê 19 tuổi đưa qua Mỹ. Cả hai hợp thành một “cặp đôi hoàn hảo” qua các chuyến đi đánh bài từ Las Vegas đến Monaco, Macau, Hong Kong.
Nhưng đến năm 2010 lại… chia tay nhau dù đã có 3 con gái, vợ còn kiện cáo đòi nhà trị giá 10 tỉ đồng ở Phan Thiết!

1.146 - Ngô Gia Hy
BẬC THẦY Y KHOA SỐNG THỌ NHẤT
Giáo sư bác sĩ sinh năm 1914 tại Bắc Ninh – Mất 2004 (91 tuổi).
Từng là học trò của cố bác sĩ Tôn Thất Tùng ở Miền Bắc trước 1954, chuyên về niệu khoa.
Sau khi di cư vào Nam là một trong 2 người biến một trại tạm cư dân Bắc di cư thành bệnh viện Bình Dân ngày nay. Nhiều năm làm hiệu trưởng ĐH Y Sài Gòn đến ngày Miền Nam sụp đổ.
Sau 30.4.175 vẫn ở lại tiếp tục làm công việc chuyên môn, dạy ĐH Y – Dược TPHCM, làm tổng biên tập tạp chí Thời sự Y - Dược học. Về hưu làm hiệu trưởng ĐH Dân lập Hùng Vương 1995-2000. Sống an nhiên tự tại luôn yêu đời lạc quan. Mê sưu tầm tem vào hàng cao thủ niên trưởng với gia tài hơn 180 tập tem. Yêu thích văn nghệ đàn ca xướng hát cùng bạn bè, học trò, cả làm thơ kiểu tự trào nữa như bài “Đố ai” sau đây:
“Là ông thầy thuốc, đố ai
Khoe khoang vỗ ngực không sai bao giờ?
Trừ phi dối bạn dối người
Dối luôn mình nữa, thôi rồi đức y!”

Sau khi mất, gia đình đã góp thư viện sách chuyên khoa của ông cùng học trò hình thành Thư viện Ngô Gia Hy gồm khoảng 4.000 sách y học đặt tại một bệnh viện ở TPHCM.

1.147 - Nguyễn Phú Đạt
MÓN NỢ KỶ VẬT VỚI KẺ THÙ
Đại tá bộ đội về hưu sinh 1929 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012).
Sau thời gian chiến đấu ở miền Nam, do có trình độ ngoại ngữ nên được điều về Hà Nội làm Cục Địch vận tham gia chương trình phát thanh tiếng Anh trên Đài Tiếng nói VN hướng về đối tuợng lính Mỹ trên chiến trường Miền Nam.
Năm 1969 tiếp nhận một hồ sơ dùng làm tư liệu phát thanh gồm 2 tấm ảnh một lính Mỹ (thượng sĩ Steve Flaherty) và 3 lá thư của anh ta trong đó có một lá thư gửi mẹ ghi địa chỉ rõ ràng thuộc TP Columbia, bang South Carolina. Đây là tài liệu thu được ở chiến trường từ người lính này có lẽ đã tử trận.
Toàn bộ tài liệu sau khi được sử dụng cho chương trình phát thanh địch vận Mỹ đã được ông giữ lại như một kỷ niệm vì bản thân mình trước kia cũng có một bà mẹ đau đáu chờ tin con từ chiến trường: “Đọc lá thư gửi mẹ tôi thực sự xúc động vì lòng người mẹ ở bất kỳ nơi nào cũng giống nhau thôi.”
Sau ngày hòa bình khi VN – Mỹ tái lập bang giao, thông qua các cơ quan ngoại giao đã tìm cách liên hệ với phía Mỹ để trao lại các di vật trên cho bà mẹ Mỹ. Nhưng đáng buồn đến nay vẫn chưa tìm ra tông tích người nhận, gia đình hay thân nhân người lính Mỹ bất hạnh kia.

Từ đó dù nay đã quá bát tuần, lòng vẫn không nguôi mong mỏi trả được món nợ “tình nghĩa chiến tranh” này mới có thể yên tâm ra đi. Thỉnh thoảng đêm đêm mất ngủ vẫn ngồi dậy đi lục tìm món kỷ vật kia cất kỹ trong hộp có khóa đàng hoàng để đọc đi đọc lại không biết lần thứ mấy lá thư gửi mẹ của một người không quen từng là kẻ đối địch bên kia chiến tuyến.

1.148 - Nguyễn Xuân Nam
MỘT TRONG NHỮNG BÁC SĨ GIỎI NHẤT NƯỚC MỸ
Bác sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1959 tại Nha Trang. Sống ở Mỹ (2012)
Xuất thân gia đình ngư dân nghèo, mẹ mất năm mới 4 tuổi để lại 8 con nheo nhóc (mình là con thứ hai). Nên học lớp 6 phải bỏ học đi phụ giúp cha ra biển đánh cá.
Có thời gian chiến tranh lan rộng cha bị trúng đạn nằm nhà thương khiến một mình phải lo cáng đáng mọi việc giúp mẹ kế nuôi cả nhà. Nhưng cũng không tránh khỏi tai ương mẹ kế và 2 em chết sớm do bệnh tật không tiền chạy chữa thuốc thang.
Năm 1978 nhờ làm nghề đi biển nên có điều kiện một mình vượt biên đến Philippines rồi được qua Mỹ.
Trên đất khách quê người lao đầu vào học vì biết chỉ có con đường này mới giúp mình đổi đời được. Vừa làm vừa học lần lượt tốt nghiệp trung học, cử nhân rồi xin vào ĐH Y quyết tâm thành bác sĩ do mối ám ảnh người thân bệnh chết oan vì không được chữa trị đúng cách.
Đến 1991 mới hoàn thành đủ văn bằng làm bác sĩ chuyên khoa nhi, làm trưởng Khoa Nhi ĐH Irvine ở California. Dần trở nên nổi tiếng được ĐH Harvard năm 2009 bầu chọn là một trong những bác sĩ giỏi nhất nước.
Lấy vợ cũng là bác sĩ đồng hương chuyên khoa gây mê,
Đã mấy lần được VN mời về dự hội nghị chuyên môn, thuyết giảng “truyền nghề” cho sinh viên.

1.149 - Phạm Biểu Tâm
BẬC THẦY LỚN CỦA BÁC SĨ MIỀN NAM
Giáo sư bác sĩ sinh 1913 tại Huế – Mất 1999 ở Mỹ (86 tuổi).
Thuộc dòng dõi quan lại triều Nguyễn. Ra Hà Nội học tốt nghiệp trường Y rồi đi du học Pháp 1948, ra trường về dạy ĐH Y Hà Nội. Là một trong những tráng sinh đầu tiên của Hướng đạo VN từ năm 1930.
Năm 1954 di cư vào Nam làm giám đốc bệnh viện Bình Dân rồi giữ chức hiệu trưởng đầu tiên ĐH Y Sài Gòn trong 12 năm. Từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ năm 1963 do có thái độ chống đối chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô.
Sau ngày thống nhất đất nước vẫn ở lại làm việc chuyên môn như cũ. Nhận chức Phó Chủ tịch Hội Trí thức yêu nước TPHCM, tổ chức do chính quyền cộng sản lập ra nhằm thu hút số “trí thức tại chỗ” bắt đầu làm quen với Cách mạng.
Năm 1984 về hưu với sự nghiệp đào tạo hàng nghìn học trò bác sĩ sau này nhiều người thành danh như Trần Ngọc Ninh, Đào Đức Hoành. Bây giờ mới có thời gian rảnh để làm… cổ động viên bóng đá nhiệt tình!
Qua 1989 được xuất cảnh qua Mỹ chữa bệnh và đoàn tụ với con cái.
Năm 2000 học trò trong Hội Y sĩ VN tại Mỹ đặt ra Giải thưởng Y khoa Phạm Biểu Tâm.

1.150 - Phạm Thị Tâm
NỤ CƯỜI NGƯỜI TRONG ẢNH
Nông dân sinh 1948 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2012).
Năm 1967 em trai đi bộ đội lên đường vào chiến trường Miền Nam đã xin chị một tấm ảnh mang theo “cho đỡ cô đơn”. Tấm ảnh chụp chân dung cô gái quê 18 tuổi mang áo cánh đen miệng mỉm nụ cười e ấp với dòng chủ viết vội phía sau “Chị Tâm thương tặng em”.
Cậu em cẩn thận bọc tấm ảnh trong bao ny lông cất kín trong túi áo trên ngực rồi cất bước ra đi.
Ra đi… mãi mãi không về bởi chỉ 2 năm sau thì hung tin báo tin về em đã hy sinh trên trận địa không tìm được xác.
Người cha già không chịu được nỗi đau kéo dài cũng đi theo con trai với lời dặn con gái trước khi nhắm mắt là sau này ráng tìm hài cốt em đưa về “đừng để em ở nơi xa xôi mà lạnh lẽo”.
Thế là từ đó ở vậy không lấy chồng, đợi đến sau hòa bình tất tả ngược đường vào Nam đi tìm tin tức em tử trận ở đâu, thi thể nằm nơi đâu. Có khi sang cả Lào nơi đơn vị em từng chiến đấu.
Nhưng tất cả đều không kết quả, không dấu vết nào để lại sau quảng thời gian dài quá nhiều vật đổi sao dời. Đành thất thểu quay về quê ngày tiếp tục chăn bò, làm ruộng mà đêm thì mất ngủ nằm vắt tay lên trán thở vắn than dài nhớ em nhớ cha.
Tình cờ một ngày nọ đang chăn bò bên đường gặp một nữ trung tá bộ đội ở Miền Nam ra hỏi thăm đường bèn theo thói quen mỉm miệng cười chỉ đường. Không ngờ người nữ trung tá ấy nhìn sững vào nụ cười nói sao thấy… quen quá!
Đúng vậy, đó là nụ cười mà bà trung tá từng nhiều lần nhìn thấy trên một tấm ảnh bà đang… giữ trong túi xách, chính là nụ cười trên tấm ảnh mà ngày nào người chị gái đã tặng cho em trai vào chiến trường Miền Nam!

Thì ra bà trung tá (ở Viện Bảo tàng Quân khu 4) đang làm nhiệm vụ đi tìm hài cốt liệt sĩ trong một chuyến qua Lào đã tìm ra mộ người em bộ đội kia song trong giấy tờ kèm theo chỉ còn một tấm ảnh của người chị bọc trong bao ni lông còn nguyên vẹn. Từ bức ảnh đó và dòng chữ người em ghi thêm phía sau “T. thắng, GL, Hà Nội” mới đi dò tìm ra quê cũ là xã Toàn Thắng – Gia Lâm – Hà Nội.

Và vừa trên đường tới đây thì bắt gặp lại… nụ cười trong ảnh! Giống như có hồn người em linh thiêng đưa đường dẫn lối vậy.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 15 ) - VÕ CHÂN CỬU

Gỗ và Đá
Dưới lòng suối những rễ cây vô tình ngoạm đá. Dâu biển tang thương, phá xong những cánh rừng, người ta moi đến gốc. Những rễ cây ôm đá qua các nhà sinh vật cảnh đã thành các món hàng vô giá.
Dòng chảy 21 năm VHMN có thể sẽ được đào xới lên theo nhiều kiểu cách. Một nhà khoa học sinh học chăm bẳm vào các đề tài nghiên cứu, khi nhìn thấy các món sinh vật cảnh này quả quyết qua tháng năm, nó tích tụ nhiều chất phóng xạ. Có loại đem chưng trong nhà sẽ rất độc hại. Cách nhìn duy vật thô sơ vẫn xem gỗ và đá là những loài vô cơ. Cách nhìn mới cho rằng trong đó sự sống vẫn dịch chuyển. Có khi nó chứa đựng cả phần hồn ! Thật vậy chăng ?

Linh cảm
Trong lĩnh vực văn chương, có người vẫn tin hoặc muốn tạo ra những tác phẩm “phi thời gian”. Điều ấy rõ ràng là không thể, nhưng vẫn có nhiều ngụy biện. Dù bắt nguồn từ khuynh hướng hay trường phái nào, tác phẩm văn chương, nhất là thơ ca cũng phải từ cảm xúc của con người. “Khi cảm xúc bị tác động thì trong lòng phát ra lời với âm hưởng và tiết tấu. Đó được gọi là Thơ. Như vậy, Thơ dùng biểu lộ tình cảm và tư tưởng con người”. Định nghĩa mang tính nhập môn ấy hình như được công nhận trên toàn thế giới. Nhưng có một ngày những người cầm quyền lại phủ nhận, bắt thơ phải phục vụ cho điều này, điều nọ…Từ đó cho rằng những vần thơ không xuất phát từ cảm xúc hiện thực không phải là thơ. Họ quên mất khả năng “linh cảm” của thơ…
Trước và sau biến cố 1975, các nhà thơ Miền Nam cảm nhận ra sao ? Đâu phải ai cũng phải miêu tả bằng những tiếng súng đạn, sự rên rỉ…Trong khi tôi cảm nhận với những “Tiếng chà xát của mây trong khí / Gió sang mùa mộng mị sang canh”… thì ở Bình Thuận, Lê Nguyên Ngữ, một thi sĩ mặc áo lính nghe được những cơn “gió bấc” vào cuối 1974 :

TRỞ BẤC
Có phải bấc đã xoay chiều
Vào những cửa nhà không cánh của quê ta ?
Gió thổi sắt se trên cánh đồng như lùng tìm mùa lúa mới
Hương cốm cũ theo về phảng phất
Trên bàn thờ khói lạnh hương tàn
Con cháu nào đã bỏ tổ tiên
Xa chạy cao bay

Có phải gió bấc đang nôn nao nỗi khát thèm
Viền đường bay áo mới
Ngọn cỏ vàng đong đưa vô tình
Rung nỗi bơ vơ lên khung trời xám nhạt bao la
Dưới cầu ao xưa
Lũ bèo cũng đang khát thèm
Âm khua rỗ rá

Có phải gió bấc bây giờ
Đang ruổi rong bằng vó ngựa bất kham
Và rượt đuổi mùa đông
Khắp ngõ hẻm hang cùng
Ôi quê ta, quê ta
Kỷ niệm nào đang run trong mùa đông rét ngọt
Bên hàng cây ngọn rẫy rất vô tình

Cơn bấc nào đã lì lợm tìm về
Trên quê ta, quê ta
Bằng đôi cánh tuyệt vời
Đang trùm khắp mùa đông binh lửa
Bằng ngõ đến tuyệt vời
Bấc làm người lạ mặt giữa quê ta
(Tạp chí Thời Tập)

Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh tệ hại, có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc. Có những bản đưa bài thơ được phổ nhạc trở nên nổi tiếng. Từ đó lại có những tranh cãi rằng “Thơ có trước hay Nhạc có trước ” –mà quên mất rằng “ngôn ngữ thơ” luôn “đượm tính âm nhạc”. Hóa giải cho sự tranh cãi này, có thể là các ví von của dân gian : “Thơ với nhạc như hoa với bướm”. Hoặc cách đổ thừa cho rằng mỗi tác phẩm nghệ thuật ra đời đều có số phận riêng của nó, có thể được nhiều người thích hoặc không thích ! Ngay cả với Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ luôn có lời nhạc đượm chất thơ, cũng có những bản nhạc không được cho là hay; nhưng nếu đọc lời, bài thơ lại rất ý vị ((Bài hát cùng tựa đề) :
KHÓI TRỜI MÊNH MÔNG
Ta về nơi đây phố xưa dấu đạn
Con đường bên sông cỏ lá buồn tênh
Ta về nơi đây tháng năm quá rộng
Ðường xưa em lại thấp thoáng bàn chân

Ta về nơi đây thoáng nghe gió lạnh
Hết mùa thu sang đã đến ngày đông
Những hàng cây xanh đón em áo lộng
Bây giờ ta nhìn khói trời mênh mông

Ta về nơi đây bỗng im tiếng động
Ðã về trên sông những cánh bèo xanh
Có còn trong em những đêm gió lộng
Ngồi bên hiên nhìn bến nước đầy dâng

Có còn trong em những cây nến hồng
Những cầu qua sông những chút tình duyên
Gió trời lênh đênh nhớ con phố hẹn
Ta nhìn ta về giữa trời hư không...

Có một thi sĩ khá cực đoan, không bao giờ muốn thơ mình được phổ nhạc: Nguyễn Đức Sơn. Nỗi ước mơ hòa bình của anh được diễn tả đượm màu tiêu dao:

MAI KIA
Mai kia tan biến hận thù
Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông
Cha về ôm cả biển sông
Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời
Cho con cha hứa một lời
Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày
Thu nào tóc bạc òa bay
Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già
Cúi hôn trời đất đậm đà
Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên.

Câu đá, câu mây
Ước mơ đơn giản ấy không dễ gì có được. Nhiều tình huống phải tan hoang sau biến cố “có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn” – như cách nói của một nhà chính trị !

Sau sự kiện “long trời lở đất”, các thi sĩ không theo yêu cầu “thơ phải thế này, thế nọ” sinh sống và cảm xúc ra sao ? Ai cũng có một khoảng trời, một thiên đường mơ ước. Mỗi người chọn môt chốn ẩn giấu, làm nơi dung thân mình. Vẫn chất giọng không thay đổi, Nguyễn Bắc Sơn “Xin bái biệt những người tin rằng thi sĩ chết”:

Bỏ xứ
Mười năm nhỉ, mười năm khuất nhục
Ngồi khua ly trong quán cô hồn
Cô độc quá người thanh niên khí phách
Trời đất bao la mà không chỗ dung thân.

Kỳ lạ nhỉ, giờ đây ta bỏ xứ
Theo trái phong du níu gió lên trời
Xin bái biệt cổ thành với nhà ga hoang không thiết lộ
Khói của chòi rơm, bãi cát trăng soi.

Xin bái biệt những người tin rằng thi sĩ chết
Và hi hô tát cạn dòng sông
Khi giã từ, ta tặng cho các ngươi cái búa
Ðể đốn đời thánh hạnh của cây thông.

Ở Ðà Lạt, ngoài khung cửa kính
Giàn su xanh thở ấm má em hồng
Và tôi, kẻ mười năm không áo lạnh
Biết đời mình đủ ấm hay không?

Ở Ðà Lạt ta tha hồ cuốc đất
Và tha hồ ẩn hiện giữa ngàn cây
Sẽ đi tìm cây cần trúc nhỏ
Ra hồ ngồi, câu đá câu mây.

Ở Ðà Lạt, lạc đàn dăm bảy đứa
Còng lưng ra mà cõng ba-lô
Những hào sĩ đứng bên bờ nhật nguyệt
Vỗ tay cười khinh lớp sóng lô nhô.

Thư:
Từ gợi ý của một số bạn hữu thân thiết, Tản mạn văn học Chắp Tay Dòng Đời đã trải qua 15 kỳ. Một phần góc khuất trong 21 năm Thơ ca Miền Nam được khơi dòng từ một người thuộc lớp sau cùng của VHMN. Các tản mạn đa phần có tính hồi ký, nên có một số chi tiết đã được góp ý nên chỉnh lại cho chuẩn xác, và thú vị hơn.
Người viết xin tạm ngưng truyền mạng 5 kỳ còn lại, và hy vọng Võ Chân Cửu - Chắp Tay Dòng Đời có thể sẽ được in thành sách vào cuối năm 2012.

Võ Chân Cửu

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 113 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

Tưởng niệm
Trần Đình Trường
ĐẠI GIA KHÁCH SẠN MỸ
Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1932 tại Hà Tĩnh – Mất tháng 5. 2012 ở Mỹ (81 tuổi).
Trước 75 là chủ đội tàu biển lớn nhất miền Nam, làm giàu nhờ chuyên chở vũ khí, trang bị cho quân đội Mỹ vào miền Nam đánh Cộng sản.

Đến biến cố 30.4.75 đã cùng vợ con (1 con trai, 2 con gái) di tản qua Mỹ. Trong cuộc biến động lịch sử này tự nhận đã dùng đội tàu biển 24 chiếc của mình để chở người di tản – cả dân Việt lẫn Mỹ – qua Mỹ, đến hơn 8.500 người. Tuy nhiên sau đó có người phản bác nói thực sự không phải như vậy mà ông chỉ nhân đó đem theo cả một “núi” vàng qua Mỹ!

Trên đất Mỹ chuyển qua kinh doanh khách sạn tại New York và nhanh chóng trở thành một trùm khách sạn tên tuổi, chuyên mua những khách sạn cũ xuống cấp giá rẻ để tân trang lại phát triển cả một chuỗi khách sạn. Còn xây một trung tâm thương mại VN tại Philadelphia. Trở thành một trong số ít Việt kiều giàu nhất Mỹ với tài sản ước tính khoảng hơn 1 tỉ USD.

Nhưng trong việc làm ăn này cũng từng mắc tai tiếng là sử dụng khách sạn để chứa chấp tệ nạn xã hội như bọn buôn ma túy, gái mại dâm. Từ đó thỉnh thoảng lại bị cảnh sát nhòm ngó, kiểm tra, thậm chí còn đưa ra tòa nữa.

Dù vậy ra tòa lần nào cũng thoát nạn, có lần bị tuyên án 20 ngày tù song kháng án được chấp nhận vô tội. Lý lẽ biện minh là do mình có cho một số dân nghèo không nơi cư trú ở khách sạn không lấy tiền nên bị hiểu lầm, rằng mình bị cảnh sát Mỹ kỳ thị chủng tộc…

Năm 2001 sau vụ khủng bố 11.9 đã tặng Hội Chữ thập đỏ Mỹ 2 triệu USD đồng thời còn cho các tình nguyện viên làm công tác dọn dẹp đống đổ nát 2 tòa tháp bị máy bay khủng bố đâm sập ở khách sạn miễn phí. Những khi người Việt tụ tập về New York họp hành, gặp mặt hội hè đều sẵn lòng tiếp đón, hỗ trợ. Năm 2004 được nhận giải thưởng vinh danh trong cộng đồng Việt kiều Mỹ.

Bí quyết thành công trong sự nghiệp kinh doanh từ VN đến Mỹ: “Tất cả chỉ tập trung vào 2 chữ cố gắng. Cố gắng làm việc thì tất yếu dẫn tới thành công. Tầng lớp nào, nghề nghệp nào cũng vậy thôi. Vừa cố gắng làm việc vừa học hỏi tiến bộ…” Ap dụng thực tế với nhà tỉ phú Việt kiều này ấy còn là sự khôn ngoan, nhạy bén biết “nhập gia tùy tục” đặc biệt là phải nắm luật (Mỹ) để có thể “lách” luật.
Cuối đời bệnh tuổi già bị đột quỵ nằm liệt mấy năm trước khi mất.

1.131 - Đặng Thị Cừ
80 TUỔI BÁN HÀNG RONG NUÔI CON TÂM THẦN
Lao động nghèo sinh 1931 tại Hà Nam. Sống ở Hà Nam (2012).
Lấy chồng cùng quê sinh được 3 con (2 gái 1 trai) thì chồng nhập ngũ vào Nam chiến đấu.
Năm 1968 nhận được tin báo tử chồng đã hy sinh không tìm thấy mộ. Còn lại một mình vất vả chạy vạy tứ phương mưu sinh nuôi con.
Con cái lớn lên, 2 con gái đầu đi lấy chồng xa hoàn cảnh cũng khó khăn chẳng giúp đỡ gì mẹ già. Con trai út năm 1983 vào bộ đội nhờ thời bình nên năm 1986 được cho xuất ngũ.

Không ngờ về nhà, anh con trai bắt đầu có dấu hiệu tâm thần phá nhà phá cửa, bỏ đi lang thang điên điên khùng khùng. Mẹ già chạy đôn chạy đáo nhờ người chữa bệnh vẫn không khỏi.

May sao nhờ thời gian qua đi, đến năm 2000 bệnh con trai đỡ dần, có khi cũng thấy tỉnh trí lại. Từ đó lấy được vợ cùng xã cũng là người thuộc dạng trí óc chậm phát triển, sinh được 1 trai 1 gái.

Nhưng sau khi có đứa con thứ hai năm 2011, bệnh cũ tái phát đánh đập vợ con, tới mức có lần suýt đốt nhà! Vợ sợ quá ôm con về bên ngoại.

Thế là chỉ còn mẹ già lại nai lưng ra nuôi đứa con trai 46 tuổi tâm thần bất định nhưng bà đã hơn 80 tuổi biết làm gì kiếm tiền trong khi trợ cấp Nhà nước chẳng đủ chút nào. Đành bán nhà rồi dắt con dở người lang thang lên Hà Nội bán rong hàng lặt vặt ngoài chợ nhỏ kiếm sống qua ngày, tối về 2 mẹ con ngủ đầu đường xó chợ.
Vậy mà mẹ già cứ canh cánh bên lòng nỗi lo mình mất đi thì thằng con dại khờ biết sống cậy nhờ ai đây?!

1.132 - Thiênna Hồ
KỶ LỤC GIA THẾ GIỚI “THỤT DẦU”
Tiến sĩ, doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1968 tại VN. Sống ở Mỹ (2012).
Năm 1978 lúc 10 tuổi cùng gia đình vượt biên đường biển, bị hải tặc tấn công 5 lần may mà sống sót cập bến Indonesia rồi được Mỹ tiếp nhận.

Lớn lên tốt nghiệp đại học nhiều ngành kinh tế, thương mại, sinh hóa lẫn dinh dưỡng ra lập công ty thành đạt từ năm 27 tuổi.

Vốn đa năng nên cùng lúc còn siêng năng tập luyện thể dục để giữ gìn sức khỏe qua đó mê say tập bài phạt “thụt dầu” (Sumo squats - thường áp dụng trong quân trường rèn luyện tân binh) với động tác đứng lên cúi xuống nhiều lần liên tục trong tư thế chuẩn là phải đứng tấn 2 chân mở rộng rồi co đầu gối cúi cong lưng xuống rồi đứng lên vươn thẳng người. Ban đầu do người bố vốn là một võ sĩ đai đen hướng dẫn.

Chuyên cần rèn luyện như vậy 3 lần mỗi tuần (500-1.000 lần trong 30-45 phút) từ năm trên 20 tuổi, nhờ đó đã đạt tới thành tích thực hiện được 5.384 lần Sumo squats trong vòng 1 tiếng đồng hồ đáng kể là chưa ai làm được. Kể cả nhà Vô địch Thế giới môn này Attila Hovarth vận động viên đẩy tạ 2 lần dự Olympic 1992 – 1996 của Hungary với kỷ lục 4.656 lần/giờ.

Để chính thức hóa việc phá kỷ lục của mình, ngày 16.12.2007 bà đã biểu diễn tài nghệ này trước sự chứng kiến của đông đảo người hâm mộ và cả Ban Biên tập Kỷ lục Guinness Quốc tế tại sân vận động của ĐH San Francisco ở California: Hoàn tất 5.135 lần “thụt dầu” đúng quy cách trong chỉ 1 tiếng đồng hồ (kém thành tích cao nhất của mình phần nào do lúc này đã gần 40 tuổi).

1.133 - Thích Minh Châu
CẦU NỐI PHẬT GIÁO HÒA HỢP CỘNG SẢN
Tu sĩ Phật giáo sinh 1920 tại Quảng Nam. Sống ở TPHCM (2012).
Tu sĩ Phật giáo xuất gia ở Huế rồi du học An Độ đậu tiến sĩ. Năm 1964 trở về Sài Gòn làm viện trưởng Viện ĐH Vạn Hạnh trực thuộc Giáo hội PG VN Thống nhất, là tu sĩ PG hiếm hoi đạt bằng cấp đại học nước ngoài cao nhất thời này nên rất có uy tín trong và ngoài nước.
ĐH Vạn Hạnh đương nhiên truyền bá tinh hoa tư tưởng PG tập trung nhiều giáo sư và sinh viên gốc miền Trung theo đạo Phật mang sẵn tinh thần dân tộc, từ đó dễ chuyển dần qua khuynh hướng thiên tả, thân Cộng chống chế độ Thiệu – Kỳ. Vì thế không lạ sau 30.4.1975 được chính quyền Cộng sản khá ưu ái.

Từ đó vị viện trưởng cũ tỏ rõ theo phái chủ trương “sống chung” hợp tác với Cộng sản do các hòa thượng lãnh đạo PG miền Nam lúc đó Thích Trí Thủ, Thích Trí Tịnh dẫn đầu đối lập với phái PG chống đối Cộng sản của hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ.

Bản thân nhờ trình độ trí thức cao, khả năng ngoại giao linh hoạt được cử làm đại diện làm việc trực tiếp với chính quyền Cộng sản. Tích cực tham gia vận động thành lập giáo hội PG mới thiên Cộng là Giáo hội PG VN (giữ chức vụ tổng thư ký) đối lập với giáo hội cũ là Giáo hội PG VN Thống nhất chưa chịu chấp nhận Cộng sản (xem như bị cấm hoạt động, sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang qua đời hầu như đã “hoàn thành nhiệm vụ lịch sử”!).
Nhờ đó được chính quyền cho chuyển ĐH Vạn Hạnh thành Viện Phật học Vạn Hạnh rồi lập thêm trường Cao cấp Phật học VN, Viện Nghiên cứu Phật học VN.

Sau khi đã làm được một số việc nhằm bảo vệ và hoằng dương đạo pháp (nổi trội về mặt giáo dục) như trên trong tình thế thời cuộc rất khó khăn, đến cuối đời lặng lẽ rút lui về ở ẩn chuyên lo tiếp tục biên soạn, dịch thuật kinh sách với hơn 30 tác phẩm đã hoàn thành.

1.134 - Thích Quảng Độ
PHẬT GIÁO CHỐNG CỘNG QUYẾT LIỆT NHẤT
Tu sĩ Phật giáo tên thật Đặng Phúc Tuệ sinh 1927 tại Thái Bình. Sống ở TPHCM (2012).
Trước 1975 từng làm Tổng Thư ký Viện Hóa đạo của Giáo hội PGVN Thống nhất (tuơng đương cơ quan “hành pháp” của Giáo hội), sau đó là Phó Tăng thống của Viện Tăng thống (tương đương cơ quan “lập pháp” của Giáo hội).
Sau 1975 cùng hòa thương Thích Huyền Quang viện trưởng Viện Tăng thống đối lập với chính quyền Cộng sản, đòi quyền tự do tôn giáo thực sự.
Vì thế đã nhiều lần bị chính quyết bắt giam, thậm chí đưa ra tòa lãnh án tù: Năm 1977 bị bắt giam ở TPHCM rồi đưa ra tòa nhưng do sức ép công luận quốc tế nên không kết án; năm 1982 lại bị bắt đưa về quản thúc tại quê nhà Thái Bình; năm 1992 được cho về lại TPHCM song qua năm 1994 viết tài liệu cáo buộc chính quyền đàn áp PG (cả gửi thư lên Tổng Bí thư Đỗ Mười lúc đó) nên 1995 bị bắt lần nữa đưa ra tòa chịu án 5 năm tù; đến 1998 được trả tự do trước thời hạn; tuy nhiên 1999 ra Quảng Ngãi vận động Phật tử đấu tranh liền bị bắt áp tải về TPHCM, từ đó xem như bị quản thúc tại chỗ ở nơi mình trụ trì là Thanh Minh Thiền viện.

Năm 2008 sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, được cử làm quyền Tăng thống. Đến cuối năm 2011 trong Đại hội PGVN Thống nhất tổ chức ở Mỹ mới chính thức được suy tôn làm Tăng thống Giáo hội PGVN Thống nhất (đệ ngũ Tăng thống) trên danh nghĩa vì giáo hội này từ lâu không được chính quyền hiện tại công nhận. Hơn nữa, do tuổi già nên cũng không còn phát triển hoạt động mạnh mẽ như trước kia.
Vì các hoạt động tranh đấu cho quyền dân chủ và tự do tôn giáo nên được một số tổ chức nhân quyền quốc tế trao giải nhà vận động dân chủ như tổ chức Thorolf Rafto của Na Uy năm 2006, tạp chí A Different View ở Châu Au năm 2008 nhưng đều từ chối đi nhận giải vì ngại sẽ không được phép trở về nước nữa.

1.135 - Thích Trí Thủ
DẪN ĐẦU PHẬT GIÁO HÒA HỢP CỘNG SẢN
Tu sĩ Phật giáo tên thật Nguyễn Văn Kính sinh 1909 tại Quảng Trị – Mất 1984 ở TPHCM (76 tuổi).
Tu học tại Huế, năm 1963 dẫn đầu Phật giáo miền Trung chống chế độ Ngô Đình Diệm.
Sau khi chế độ này bị lật đổ, vào Sài Gòn làm viện trưởng Viện Hóa đạo được xem như cơ quan “hành pháp” của Giáo hội PGVN Thống nhất (bên trên còn Viện Tăng thống đóng vai trò tương đương cơ quan “lập pháp” của Giáo hội).
Sau ngày Công sản toàn thắng, bản thân theo chủ trương chấp nhận hòa hợp tôn giáo với chính quyền mới khác với Viện Tăng thống do hòa thượng Thích Huyền Quang dẫn đầu đấu tranh đòi PG độc lập với chính quyền, thậm chí đi đến chỗ chống đối mà đại diện hiện nay là hòa thượng Thích Quảng Độ.
Từ đó năm 1977 từ bỏ giáo hội cũ là Giáo hội PGVN Thống nhất để tham gia vận động thành lập Giáo hội PG mới là Giáo hội PGVN và nhận chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội (giống Viện Hóa đạo trước kia).
Trong giai đoạn khó khăn PG phải đối đầu với chế độ Cộng sản “vô thần”, đã đóng vai trò trung gian quan trọng mà tế nhị bảo vệ đạo pháp vẹn toàn theo chính kiến riêng của mình tương tự cố Tổng Giám mục Sài Gòn – Nguyễn Văn Bình bên Thiên Chúa giáo.

1.136 - Tô Kiều Ngân
KHÔNG ĐI H.O
Nghệ sĩ ngâm thơ tên thật Lê Mộng Ngân sinh 1926 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở TPHCM (2012).
Lớn lên vào Sài Gòn hoạt động văn nghệ, là một nghệ sĩ đa tài viết văn, làm thơ, dịch thơ Đường, chơi đàn tranh đàn bầu nhưng nổi bật nhất là nghệ thuạt ngâm thơ truyền cảm (kèm thổi sáo, thổi harmonica điêu luyện) qua chương trình thơ Tao Đàn hàng tuần trên Đài Phát thanh Sài Gòn chế độ cũ (phụ trách luôn sau khi nhà thơ Đinh Hùng sáng lập qua đời).
Bị gọi đi lính, ra trường sĩ quan chuyển về ngành tâm lý chiến.
Từ đó sau 75 mang lon trung tá phải đi cải tạo dài ngày.
Nhưng sau khi được trả tự do đã chấp nhận ở lại cùng gia đình không đi Mỹ theo diện H.O.
Trở lại đời thường sống đời thanh thản tìm vui qua những hoạt động văn nghệ thầm lặng như ngâm thơ ghi đĩa, ngâm thơ phổ biến trên mạng, làm thơ nhắc nhớ kỷ niệm quê nhà Huế, nghiên cứu ca Huế, viết báo, viết sách dạy học thổi sáo, ngâm thơ, thổi kèn harmonica…

1.137 - Tô Thùy Yên
BÀI THƠ LỚN TÙ CẢI TẠO
Nhà thơ tên thật Đinh Thành Tiên sinh 1938 tại Gò Vấp, TPHCM. Sống ở Mỹ (2012).
Di cư 1954 vào Nam.
Học ĐH Văn khoa Sài Gòn, làm thơ từ đó gia nhập nhóm Sáng Tạo gồm đa số nhà văn miền Bắc di cư thành lập tạp chí văn nghệ cùng tên vận động mở đường cho trào lưu xây dựng nền VHNT mới cho miền Nam tự do dân chủ.
Trong đó phần mình có đóng góp đáng kể cho thể loại thơ tự do, cùng với Thanh Tâm Tuyền được xem là hai nhà thơ tiên phong của trào lưu này. Tác phẩm thơ thường làm những bài dài mang tính tự sự triết lý sâu xa.
Năm 1963 bị gọi nhập ngũ, ra trường làm sĩ quan tâm lý chiến.
Vì vậy sau 30.4.75 mang hàm thiếu tá phải đi cải tạo hơn 10 năm.
Tuy nhiên sau khi được thả ra còn bị bắt thêm 2 lần nữa vì tình nghi chống đối chế độ cộng sản song mỗi lần chỉ giam giữ khoảng một năm thôi.
Trong thời gian trở về từ trại cải tạo đã sáng tác bài thơ dài “Ta về” 124 câu đáng kể là khúc trường ca thơ bi tráng về chủ đề tù cải tạo có chất luợng, giá trị nhất của các nhà thơ VNCH cũ. Bài thơ đã sớm được chuyển qua Mỹ phổ biến, được nhạc sĩ Cung Tiến bạn thân thiết phổ nhạc năm 1992. Nguyên văn:

Ta về
“Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa.

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi.

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời.

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can.

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi .


Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu.

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên.

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa.

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi.

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đa khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa.

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.”

Năm 1993 cùng vợ con qua Mỹ định cư theo diện H.O, để lại người vợ sau – một nhà văn có tên tuổi - cùng một con gái mắc bệnh dộng kinh trầm kha.
Trên đất Mỹ tiếp tục làm thơ, xuất bản 2 tập “Tuyển tập thơ Tô Thùy Yên” 1995 và “Thắp tạ” 2004.

1.138 - Tô Tiến Hòa
3 ĐỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM
Nông dân sinh 1948 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2007).
Bộ đội trên chiến trường Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, bị thuơng nên được đưa ra Bắc an dưỡng năm 1972 rồi xuất ngũ về quê làm ruộng.
Lấy vợ sinh con bị dị tật, teo cơ, da lỡ loét do nhiễm CĐDC. Con lớn lên lấy vợ sinh con cũng bị khuyết tật không có chân, các ngón tay dính vào nhau…
Bản thân ông về già cũng phát tác di chứng về CĐDC gây đau đầu, da lỡ lói, mắt mờ, tai điếc. Nhưng vì thương cháu quá ham học nên hàng ngày phải chịu khó cõng cháu đến trường xin học…

1.139 - Tô Văn Khải
MỘT ĐỜI CÕNG CHA MẸ
Lao động nghèo sinh 1971 tại Tây Ninh. Sống ở TPHCM (2007).
Trong thời chiến tranh chống Mỹ, gia đình sống trong vùng chiến khu Tây Ninh nên cha mẹ bị nhiễm CĐDC lúc nào không hay (còn 4 ông bác ông chú đều là liệt sĩ). Cha bị phù thủng, suy nhược toàn thân; còn mẹ bị trúng miểng bom trong một trận bom Mỹ làm 2 chân co rút lại bại liệt và thần kinh bất ổn nhiều khi mê mê tỉnh tỉnh như người mất trí.
Ngoài ra còn thêm 2 em gái cũng mắc bệnh bại não cứ gặp trời nóng lên là lên cơn động kinh phá phách, cấu xé cả bản thân mình.
Vì thế từ nhỏ đã phải đi bòn mót khoai sắn ngoài đồng, thậm chí còn lượm phân bò đem bán cho nông dân giúp cả nhà thêm miếng cơm cầm hơi.
Năm 1989 gia đình chuyển về sống ở Củ Chi mong “đổi đời” thoát khỏi ám ảnh chiến tranh u ám. Nhưng cảnh nhà vẫn không khá hơn được chút nào do chỉ có một mình mình còn sức khỏe đi ra ngoài làm thuê, tối về cặm cụi đan rổ rá kiếm thêm chút tiền nuôi cha mẹ và 2 em gái. Khi cha mẹ và 2 em lên cơn đau vẫn chỉ một mình lo cõng chạy băng đồng lên trạm xá, chữa trị qua loa về nhà nếu có ai còn lên cơn thì lại cõng đi vòng vòng quanh sân để cho… dịu bớt cơn đau!
Riết rồi chịu không thấu, đến lượt mình bệnh nằm dài cả tháng, thế là cả nhà… đói! Đẩy vào chỗ tuyệt vọng tới mức có lần định cùng cả nhà… uống thuốc trừ sâu chết đi cho xong, may mà cuối cùng kịp tỉnh lại đem giấu chai thuốc trừ sâu không cho ai biết.
Hoàn cảnh bi đát tận cùng như thế mà lại còn phải làm thêm một nhiệm vụ báo hiếu nữa theo yêu cầu của cha là… lấy vợ để dòng họ khỏi bị tuyệt tự!
Cũng lấy được vợ nghèo như mình rồi cũng sinh được bé gái đầu lòng. Đến đó mới nảy ra mối lo nữa không biết cháu có bị ảnh hưởng hậu quả CĐDC hay không khi đến hơn 2 tuổi vẫn chưa biết nói. Ông bà, cha mẹ lo lắng như ngồi trên lửa, may mà đến 3 tuổi thì bé nói được ai cũng mừng không kể xiết.
Tuy nhiên vui mừng chưa được bao lâu thì đại tang kéo đến, đầu tiên một em gái lên cơn động kinh nặng không qua khỏi rồi kéo theo bà mẹ đau lòng quá cũng ra đi theo chân con. Với lời trăng trối để lại cho con trai duy nhất ráng lo tiếp cho cha và em gái được lúc nào hay lúc đó.
Thế là bây giờ lại tiếp tục cõng cha cõng em đi cho hết quảng đời còn lại.
Dù sao nay cũng còn được niềm an ủi là có đứa con gái nhỏ chạy lẫm chẫm theo sau cha cõng ông bà bi bô gọi “ba ba” trong khi lẽ ra em mới là người được cha cõng trên vai!

1.140 - Tod Adamson – Jennifer Arias
QUÊ VIỆT NỐI NHỊP CẦU TÌNH YÊU
Cặp vợ chồng Mỹ sinh tại Việt Nam. Sống ở Mỹ (2012).
Chồng là con lai Mỹ bị cha Mỹ bỏ rơi, sinh ra lại bị bại liệt nên mẹ Việt đem cho trại mồ côi ở Đà Nẵng trước 1975, được trại đặt tên Việt là Trường Thắng. Tháng 4.1975 được máy bay Mỹ đưa qua Mỹ trong chiến dịch “giải thoát” trẻ mồ côi mang tên Babylift (khoảng 2.000 em qua Mỹ và 1.300 em qua Canada, Uc, Châu Au).
Vợ cũng là con lai Mỹ bị mẹ đem bỏ rơi trước Viện Cô nhi ở Sài Gòn, được các bà xơ nuôi nấng đặt tên Việt là Phương Hồng Lan. Cũng qua Mỹ trong chiến dịch Babylift.
Năm 2000 cả hai đều tìm về thăm lại quê mẹ sau bao năm xa cách, gặp nhau trên cùng chuyến bay từ đó nảy sinh tình yêu. Trở về Mỹ làm đám cưới năm 2001.

(Còn tiếp)